|
Cập nhật lúc :12:00 PM, 24/01/2012
TS Võ Văn Sự (Viện Chăn nuôi) chia sẻ với bạn đọc một số vấn đề về việc nuôi động vật hiếm hiện nay.
Trong những năm gần đây việc chăn nuôi các loại động hiếm (rare animal) khá sôi động. Bên cạnh đó, luôn tiềm ẩn những cơ hội và rủi ro. Sau 10 năm làm công tác nghiên cứu về việc chăn nuôi động vật hiếm và bản thân đã từng khởi xướng việc chăn nuôi : nhím, gà H’mông, trĩ đỏ, hươu, lợn rừng, chồn nhung đen..., tôi muốn chia sẻ cùng bạn đọc một số suy nghĩ về vấn đề này nhân dịp đầu xuân.
Trên quả địa cầu này, có khoảng 5675 loài động vật có vú (mammalia) và 10.000 loài chim.... Loài người đã thuần hóa và sử dụng ở mức độ 40 loài động vật trong hai nhóm trên cho mục đích cung cấp thực phẩm, nông nghiệp và các mục đích khác. Con số đó ở nước ta là 27 loài trong đó có 14 loài là phổ thông, 12 loài thuộc loại hiếm. Các loài mới được du nhập: đà điểu, gà sao, trĩ đỏ, chồn nhung đen, lợn rừng, kỳ đà, hon. Một số mới tự nhân nuôi như nhím, cầy hương, dông cát, kỳ đà. Điểm qua một số loài tương đối điển hình, như sau:
Nhím bờm
Loài vật này được nuôi từ 1999, phát triển thành cao trào từ năm 2003 kéo dai đến năm 2010. Giá con giống được đẩy từ 100 – 150 ngàn đồng / kg năm 2003 lên 1-2 triệu đồng năm 2010. Hiện nay đã giảm xuống 2/3 thậm chí ½. Ước tính trên cả nước có đến 5000 hộ nuôi nhím, riêng Sơn La đã có đến 200 hộ.
 |
|
Đặc điểm: tăng trọng 1-2 kg / tháng. Một năm đẻ 3-4 con. Thức ăn đa dạng, chủ yếu là cây củ quả. Bệnh tật: rất ít. Thịt: ngon vừa phải. Có thể nuôi nhiều vùng. Do đặc điểm ăn tạp, dễ nuôi, ít bệnh nên như ở Hương Sơn (Hà Tĩnh), một nông dân có tính: giá có xuống đến 5 trăm ngàn đồng con – vẫn nuôi được. Người mua giống đôi lúc vẫn mua nhầm phải nhím bắt trong rừng ra. Để mua được giống tốt phải căn cứ vào lai lịch của nó. Thịt nhím cũng giống thịt lợn nên dễ làm giả.
Lợn rừng
Được nuôi từ năm 2000. Có 2 loại: lợn rừng Việt Nam, Thái Lan. Phổ biến là lợn rừng Thái Lan và con lai giữa hai loại lợn rừng đó với nhau hoặc với các loại lợn đen miền núi.
Nuôi lợn rừng thịnh hành từ năm 2003 đến 2009. Giá bán con giống năm 2003 khoảng 100-150 ngàn đồng / kg, đến 2005 lên đến 250 ngàn đồng, cá biệt là 300 – 400 ngàn; hiện nay còn 180-200 ngàn đồng. Năm 2007 có khoảng 150 hộ nuôi từ 10 nái trở lên. Có khả năng sử dụng các loại thức ăn thô xanh ít giá trị dinh dưỡng. Tăng trọng: 3-5 kg/con / tháng. Số con đẻ ra 5-7 con.
Tai vạ nhất của lợn rừng đó là hàng giả: lợn rừng giống giả và thịt lợn rừng giả được làm từ thịt lợn nái sề. Người tiêu dùng bị nhầm: đó là lợn rừng nuôi thường được bán lúc 20-30 kg, tức độ tuổi thịt ngon nhất, chứ không thể lợn già, da dày.
Dông cát
Sống những vùng cát nóng, đất cằn ở những vùng miền Trung, thức ăn là những ra quả cây cỏ, thịt rất ngon nên được người dân các vùng đó nuôi.
Cách nuôi khá đơn giản: quây một vùng đất cát chừng 100 – 200 m2 bằng những tấm lợp bê tông sâu xuống đất 80 cm và nổi lên trên 80 cm sao cho con vật không thoát ra được. Chia thành từng ô, ô nuôi sinh sản, ô nuôi con từ nhỏ tới lớn. Hết mùa sinh sản, chuyển tất cả con bố mẹ đi chỗ khác, chỗ đó dông cát con sẽ nở ra và được nuôi đến lớn... Giá bán năm 2005 khoảng 200 ngàn đồng/kg; hiện tại giá khoảng gấp đôi.
Khoảng 200 gia đình vùng miền Trung nuôi loại này. Nhược điểm chính là việc ấp nở phụ thuộc vào môi trường tự nhiên.
Trĩ đỏ
Trĩ đõ là loài chim nuôi khá nhiều (sau chim cút và gà sao) trên thế giới phục vụ săn bắn và thực phẩm. Ở Mỹ có công ty nuôi đến hàng triệu con.
Tuy nhiên ở nước ta lại mới bắt đầu một vài năm nay theo kiểu “công nghiệp”. Nặng khoảng 1,5 – 2 kg. Một năm đẻ được 80-90 quả ở miền Bắc và 100 quả ở miền Nam. Trứng ấp được bằng máy công nghiệp. Thịt ngon. Đây là một đối tượng mới có tiềm năng lâu dài phát triển theo quy mô chăn nuôi công nghiệp.
Chồn nhung đen
Thuộc loài Guine Pig có nguồn gốc tại Nam Mỹ. Là loài lai, nên không phải là động vật hoang dã. Ở Peru 10% thịt thực phẩm có từ loài này. Người Trung Quốc đã gây tạo giống chồn nhung đen từ loài đó.
Chồn nhung đen nặng chừng 1 kg, một năm đẻ 4-5 lứa, 1 lứa 4-5 con. Giá thành hiện tại dao động từ 30-80 ngàn đồng/kg tùy theo nguồn thức ăn rẻ hay đắt. Thức ăn là cây củ quả. Loài này rất hiền, đẹp và vì thế cũng được dùng làm sinh vật cảnh. Thịt nướng là món sở trường của người dân Peru. Ở Việt Nam, khoảng 100 gia đình nuôi loài này. Đây là loài vật rất nên phát triển đảm bảo nhu cầu thịt đặc biệt cho vùng nông thôn và miền núi.
Ngon và kinh tế
Vì sao người dân lại tìm đến các loài vật nuôi hiếm đó? Nguồn gốc sâu xa là con người – đặc biệt là người châu Á - hướng tới của ngon vật lạ, hơn thế người ta cho rằng ăn của đồng rừng như lợn rừng sẽ mạnh mẽ hơn, an toàn hơn.
Giá thức ăn cao, các loại dịch bệnh (cúm gia cầm, tai xanh, lở mồm long móng) thì giá thành chăn nuôi bị đội cao lên, và đặc biệt từ khi các nguồn thịt ngoại giá cực thấp được nhập vào, người chăn nuôi hầu như không trụ nổi, nên phải xoay đủ kiểu, trong đó có việc tìm nuôi những con vật mới đó. Hơn nữa, những loài vật đó dẫu năng suất thấp nhưng có thể hầu như không đòi hỏi đến cám công nghiệp, thức ăn bổ sung vitamin...
Các loại này hầu như ít bệnh, nếu nuôi đúng quy trình “đại thể” thôi thì chắc lẽ chẳng bao giờ cần đến thuốc. Thêm nữa chăn nuôi loại này không cần đến điện, mà thiếu nó đã làm chết 15 ngàn con gà, 3000 lợn công nghiệp ở các trang trại trong một mùa hè 2008.
Nhận thức sai lầm của người chăn nuôi
Dễ nuôi: lợn rừng Việt Nam là một điển hình. Việc “thuần hóa” nó không đơn giản, 95% là chết. Vì thế, người dân không nên tự làm. Con hon (don) cực kỳ khó sinh trong môi trường nhân tạo. Cầy hương từ miền Nam đưa ra miền Bắc đẻ rất ít.
Cho rằng các con vật này vô bệnh tật. Thực tế không thế. Khi nuôi ít thì không sao, nhưng khi nuôi nhiều với mật độ lớn thì khả năng nhận bệnh từ các loài vật nuôi khác và từ chúng với nhau cao hơn nhiều. Vậy nên việc làm vệ sinh phòng bệnh không thể xem thường.
Nuôi ít đực giống: Họ thường nuôi một vài cặp, và như thế nguy cơ đồng huyết rất cao, đó là khó có thể chọn lọc đực giống tốt. Không có hệ thống chọn lọc, nhân giống hữu hiệu.
Thức ăn đơn điệu: Có khi cả tháng cho nhím ăn mỗi ngô. Họ không biết rằng trong rừng rú, nhím có thể ăn rất nhiều loại cây củ quả giun dế... đảm bảo chất dinh dưỡng cho nó.
Công bằng mà nói, so với thế giới thì số loài vật được nuôi ở nước ta mới được một nửa. Tuy nhiên cách thức của chúng ta vẫn tự phát nhiều. Đó là chưa nói đến người dân phải tự mày mò kỹ thuật, cái việc mà cơ quan khoa học cần phải đi trước. Nhưng khốn nổi, các cơ quan khoa học chỉ được giao nhiệm vụ khi thấy người dân đã làm ồ ạt nhằm khẳng định lại liệu chăn nuôi con vật đó có được không, có nguy hiểm đến môi trường hay không, và nếu được là nên như thế nào....
Những việc mà nhà nước nên làm: đó là ngăn chặn nạn hàng giả. Đó là một tai vạ cho nhiều ngành kinh tế, nhưng đối với các loại động vật mới “được giá” này lại càng tai vạ.
Công nhận là giống vật nuôi: Thực ra nhiều loài đều vừa là hoang dã, vừa là thuần hóa: bò rừng – bò nhà, lợn rừng – lợn nhà... Như vậy ta sẽ có nhím rừng – nhím nhà, trĩ đỏ rừng – trĩ đỏ nhà. Nhân đây cũng cần nói đến con hươu: Hươu sao đã hầu như không thấy trong rừng từ năm 1975. Nhưng hàng trăm ngàn con hươu hiện tại đều từ hươu nhà nuôi từ năm 1920 tại Hương sơn vẫn bị coi là “động vật hoang dã”.
Nên nhìn nhận mặt tích cực của nó đó là cơ hội tạo nên sản phẩm mới cho xã hội, cho xuất khẩu và cơ may tăng thu nhập cho người dân, đặc biệt là khu vực miền núi nơi đất rộng, nguồn thức ăn cây cỏ củ quả nhiều và rẻ. Nhưng để có hiệu quả thì ta cần tổ chức chăn nuôi chúng thành hệ thống, bài bản, đặc biệt hướng tới sản phẩm hữu cơ.
TS Võ Văn Sự, Bộ môn Động vật quý hiếm và Đa dạng sinh học (Viện chăn nuôi)
|
|
Dành cho quảng cáo
|