|
Cập nhật lúc :8:15 AM, 25/01/2012
(Đất Việt) Trong lịch sử tình báo quân sự Việt Nam, cụm H.63 anh hùng với “Điệp viên hoàn hảo” Phạm Xuân Ẩn, đã lập nhiều chiến công hiển hách.
Một trong những chiến công đó, được cụm trưởng, Đại tá, Anh hùng lực lượng Vũ trang Nguyễn Văn Tàu (chúng tôi vẫn thường gọi bằng tên thân thương: Chú Tư Cang), kể lại với Đất Việt.
“Một trong những Tết đáng nhớ nhất của cụm H63 là Tết Mậu thân 1968”, ông Tư Cang mở đầu câu chuyện như thế. Dù chuẩn bị bước qua tuổi 84, nhưng ông vẫn rất khỏe mạnh, nhanh nhẹn và đặc biệt minh mẫn, kể lại từng sự kiện đã xảy ra 44 năm trước.
Đòn nghi binh
Chiều 29 Tết Mậu Thân, ông nhận chỉ thị về gấp Rừng Cao su Dầu Tiếng (Tây Ninh) để nghe phổ biến Nghị quyết Quang Trung về việc đánh vào TP.Sài Gòn. Nghị quyết đề ra 3 khả năng: Một là chiếm được TP.Sài Gòn; hai là tiêu diệt nhiều sinh lực địch và ba là đánh sập ý chí xâm lược của Mỹ. “Sau này bình tĩnh lại mới thấy mình chỉ đạt khả năng thứ ba, chứ lúc học tập, ai cũng bị hút theo khả năng thứ nhất. Lúc đó xuất hiện tư tưởng đây là trận cuối cùng, nên tình báo cũng được vũ trang, vì nếu không đánh trận này thì mai mốt còn địch đâu mà đánh”, ông Tư cười nhớ lại việc mình cũng được trang bị hai khẩu súng ngắn và vài chục viên đạn.
Gần nửa đêm 30 Tết, khi về đến khu vực Trảng Bàng (Tây Ninh), ông giật mình khi thấy một tốp xe tăng Mỹ dàn ngang đường. Rất bình tĩnh, ông Tư Cang tiến lại… chúc Tết nhóm lĩnh Mỹ và hỏi thăm vì sao lại dàn quân giữa đêm như thế và được biết ngoài miền Trung có nổ súng bắn nhau rất dữ dội nên quân Mỹ đề phòng Việt Cộng tấn công vào Sài Gòn. Về đến Sài Gòn, ông Tư về nhanh chóng đi phổ biến Nghị quyết cho đồng đội rồi ở lại nhà một cơ sở gần Dinh Độc Lập (nay là Hội trường Thống Nhất). Khoảng 1 giờ sáng, ông nghe súng nổ rất gần và biết Biệt động Sài Gòn đã tấn công Dinh Độc Lập.
 |
|
Đại tá, Anh hùng lực lượng Vũ trang Nguyễn Văn Tàu, trong lễ kỷ niệm 62 năm ngày thành lập Tổng cục tình báo quân đội (Ảnh do nhân vật cung cấp).
|
Ông Tư kể, theo báo cáo của “điệp viên hoàn hảo” Phạm Xuân Ẩn, trước Tết Mậu Thân, tình báo địch đã cung cấp tin quân ta sẽ tấn công vào TP.Sài Gòn. Nhưng tướng Westmoreland, chỉ huy cao nhất quân Mỹ ở Sài Gòn khi đó, đánh giá đó chỉ là tin nghi binh, còn Việt Cộng sẽ tấn công vào các vùng vĩ tuyến 17 và Khe Xanh (Quảng Trị). “Sau này nghe các đồng chí cấp cao kể lại, chúng ta đã có nhiều động tác nghi binh, chẳng hạn làm những báo cáo giả, cố tình cho làm rơi trên đường giao liên để địch bắt được, hay làm những bức thư để trong ba lô của chiến sĩ “vô tình” để rơi vào tay giặc… cho địch nghĩ rằng chúng ta sẽ tấn công vào vùng giới tuyến ”- ông Tư hồ hởi nói. Chính vì thế, Mỹ bị bất ngờ chiến lược khi ta tấn công vào các thành phố trong dịp Tết Mậu Thân.
Lấy bản khẩu cung của kẻ phản bội
Vài ngày sau đợt 1 Tết Mâu Thân, cụm H63 đã báo cáo cấp trên về nhận định của Bộ Tổng tham mưu Ngụy: “Đây sẽ là đòn khiến Mỹ thấm dần cho tới khi ngã quỵ”. Khoảng tháng 4.1968, quân ta chuẩn bị tấn công đợt 2 Tết Mậu Thân. Lúc này, do không chịu đựng được gian khổ, một sĩ quan cấp cao của quân ta đã ra hàng địch. Đang chỉnh huấn cho lực lượng vũ trang cụm ở chiến khu Bắc Bến cát (Thanh An), ông Tư Cang nhận lệnh vào Sài Gòn lấy cho được bản khẩu cung của kẻ phản bội. Khi vào đến khu vực cầu Bình Triệu, ông Tư mua tờ báo và thấy ngay dòng tít lớn: “Thượng tá (thực tế là trung tá) Tám Hà đã trở về với chính nghĩa quốc gia”, đăng kèm ảnh kẻ phản bội đứng giữa Westmoreland và Phạm Quốc Thuần, Đại tá, Sư trưởng sư 5 quân Ngụy. Đến lúc này, ông Tư mới biết kẻ phản bội là Phó Chủ nhiệm chính trị cánh quân phía Bắc, tấn công Sài Gòn Tết Mậu Thân.
Ông truyền đạt chỉ thị của cấp trên cho ông Ẩn. Sau đó, ông Ẩn đưa ông đến khu vực Lăng ông bà Chiểu, gặp Trưởng thám báo Gia Định, từng được đào tạo tại Mỹ, nhưng khoác vỏ bọc là một trung sĩ quản lý hồ sơ, đang giữ bản khẩu cung. “Tên này chỉ nghĩ ông Ẩn làm cho báo Mỹ đi lấy thông tin viết bài, nên cho mượn bản cung với điều kiện đến giờ làm việc phải trả lại, vì sợ bị kiểm tra đột xuất”, ông Tư nhớ lại. Đọc bản cung, ông Tư giật mình, bởi Tám Hà biết nhiều bí mật và đã khai để chuẩn bị tấn công đợt II, quân ta đã chôn ở vùng Bình Mỹ (Củ Chi) và Hóc Môn vài trăm viên đạn pháo vác vai H12 để bắn vào Sân bay Tân Sơn Nhất khi khai cuộc. Chính vì thế, Mỹ đã dùng máy bay B52 rải thảm vùng này nhằm tiêu hủy số đạn pháo nói trên.
Bản báo cáo khẩn
Dù nhiệm vụ lấy bản khẩu cung đã hoàn thành, nhưng ông Tư chưa bằng lòng. Ông cùng ông Ần tiếp tục tìm hiểu thêm đánh giá của quân đội Mỹ về trận Mậu Thân và khả năng chịu đựng của Mỹ - Ngụy nếu ta đánh tiếp đợt 2. Qua tiếp xúc, một số chỉ huy các sư đoàn của Mỹ cho rằng “trước đây phải lên rừng tìm Việt Cộng, nay Việt Cộng tự đến cho đánh thì đỡ vất vả”. Thế nhưng, thông tin từ Bộ Tổng tham mưu Ngụy và cấp cao của Mỹ lại nhận định: “Nếu Việt Cộng đánh một trận nữa không cứu vãn nổi tâm lý chính trị. Bởi đợt 1 đã làm rung chuyển cả nước Mỹ và Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson đã phải tuyên bố không ra tranh cử tiếp vì mất uy tín với dân chúng” và từ bên Mỹ chỉ đạo qua bằng mọi giá ngăn không cho Việt Cộng tổ chức đợt 2 chiến dịch Mậu Thân. Chính vì thế, bọn chúng đẩy mạnh tuyên truyền việc Tám Hà ra đầu hàng với ý đồ là đã biết hết mọi kế hoạch Việt Cộng sẽ tấn công đợt 2. Những thông tin đó được ông Tư và ông Ẩn báo cáo khẩn lên cấp trên.
“Sau này, nghe kể lại, bản báo cáo này được đánh giá rất cao. Bởi lẽ, trước những tổn thất trong đợt 1 và việc Tám Hà ra đầu hàng, Mỹ - Ngụy đã biết đến đợt 2 của chiến dịch, Trung ương cục đang họp bàn, nhiều ý kiến đề nghị không đánh đợt 2 nữa. Bản báo cáo trên đã góp phần vào quyết định tiếp tục tấn công đợt 2 chiến dịch Mậu Thân. Chiến dịch này đã góp phần đánh bại ý chí xâm lược của quân Mỹ và khởi nguồn cho việc đàm phán tiến tới ký kết Hiệp định Paris 1973, quân Mỹ rút khỏi Việt Nam”, ông Tư Cang vui vẻ nhớ lại.
Thiên Trường
|
|
Dành cho quảng cáo
|