Việc tuyển sinh vào ĐH, CĐ chính là một trong những đợt tuyển “hiền tài”quan trọng của đất nước. “Hiền tài là nguyên khí quốc gia…, vun đắp nguyên khí là việc cần làm trước tiên” (Lê Thánh Tông). Tuyển sinh đúng đắn, sẽ tìm được hiền tài cho đất nước, ngược lại sẽ làm hiền tài thui chột, làm quốc gia “không sánh vai được với cường quốc năm châu” (Hồ Chí Minh).
Tôi không hiểu một công việc quan trọng như vậy mà người ta lại nghĩ rằng việc tuyển sinh quá tốn kém, phải cắt bớt đi. Tôi đồng ý với ông Văn Như Cương khi cho rằng “Có lẽ họ chưa tính toán đến cái giá phải trả (có thể rất cao) cho việc tiết kiệm đó”. Để tìm được nhân tài cho đất nước thì dù tốn kém đến mấy cũng phải tổ chức tuyển sinh đàng hoàng, xứng đáng với tầm vóc của nó. Thực ra, việc tuyển sinh có tốn kém là bao so với những tốn kém vào những việc vô bổ mà hàng ngày báo chí đều đăng tải mà tôi không muốn nhắc đến ở đây.
Tuyển sinh vào trường ĐH, CĐ là một việc đánh giá một thí sinh xin vào trường đại học theo tiêu chuẩn đề ra của trường để xét thí sinh đó có được lựa chọn trở thành sinh viên của trường hay không. Việc tuyển sinh này phải làm sao lựa chọn được thí sinh xứng đáng nhất, thỏa mãn tốt nhất các yêu cầu của nhà trường, thật sự công bằng đối với các thí sinh và được tổ chức làm sao thuận tiện cho thí sinh, nhà trường cũng như trong xã hội. Việc tuyển sinh được tốt thì sẽ làm cho chất lượng Nhà trường được tốt, chất lượng sinh viên tốt, sẽ dẫn đến đất nước có một lực lượng lao động có chất lượng cao.
Hiện nay, 1 thí sinh được tuyển vào 1 trường ĐH, CĐ ở nước ta phải thỏa mãn các yêu cầu:
Tốt nghiệp trung học (phổ thông, chuyên nghiệp, nghề).
Có sức khỏe đạt yêu cầu để có thể theo học tại trường.
Tham dự kỳ thi do Bộ Giáo dục và đào tạo (Bộ GD) tổ chức để tuyển sinh vào trường đại học. Trong kỳ thi này, thí sinh phải đạt hoặc cao hơn điểm tối thiểu (điểm chuẩn) của trường mà thí sinh thi vào,thì mới đỗ vào trường đó . Dĩ nhiên điểm tối thiểu để đỗ vào 1 trường đại học phải bằng hoặc cao hơn điểm sàn mà Bộ Giáo dục và đào tạo công bố sau mỗi kỳ thi.
Kỳ thi này gồm 17 khối thi, mỗi khối thi có những môn thi khác nhau, cụ thể như sau:
Khối cơ bản
Khối A: toán, vật lí, hóa học
Khối B: toán, hóa học, sinh học
Khối C: văn, lịch sử, địa lí
Khối D: toán, văn, ngoại ngữ
D1: văn, toán, tiếng Anh
D2: văn, toán, tiếng Nga
D3: văn, toán, tiếng Pháp
D4: văn, toán, tiếng Trung
D5: văn, toán, tiếng Đức
D6: văn, toán, tiếng Nhật
Khối năng khiếu
Khối H: văn, năng khiếu mĩ thuật (hình họa bằng bút chì và vẽ trang trí màu)
Khối K: toán, vật lí, kĩ thuật nghề
Khối M: văn, toán, năng khiếu (hát, kể chuyện, đọc diễn cảm)
Khối N: văn, 2 môn năng khiếu nhạc (thẩm âm, tiết tấu, thanh nhạc)
Khối R: văn, lịch sử, năng khiếu
Khối T: sinh học, toán, năng khiếu thể dục thể thao (chạy cự li ngắn, bật tại chỗ, gập thân, có yêu cầu về hình thể)
Khối V: toán, vật lí, vẽ mĩ thuật
Ngoài ra, thí sinh thi vào một số trường như các trường quân đội, công an , mỹ thuật, âm nhạc… còn phải thỏa mãn một số yêu cầu riêng.
Kỳ thi do Bộ Giáo dục và đào tạo (Bộ GD) tổ chức để tuyển sinh vào trường đại học được Bộ rất quan tâm, có nhiều nghiên cứu để làm sao kỳ thi trở nên công bằng, tuyển chọn được đúng người. Hiện nay, việc tuyển sinh ĐH, CĐ cũng là một đề tài được Bộ giao cho Cục Khảo thí và kiểm định nghiên cứu và đã đưa ra nhiều phương án khác nhau. Đề tài này cũng đang trở thành một vấn đề được nhiều người quan tâm và có những ý kiến khác nhau. Có nhiều kiến nghị về việc bãi bỏ, cải tiến hoặc giữ lại kỳ thi này.
Những người kiến nghị bãi bỏ kỳ thi đại học “3 chung” hiện hành đã nêu nhiều lý do, chủ yếu là những lý do sau:
- Kỳ thi này chưa đáp ứng nhu cầu tuyển sinh của các trường với những đặc điểm của mỗi trường khác nhau, làm mất tự chủ trong tuyển sinh của trường.
- Tổ chức kỳ thi tập trung nên gây áp lực cho những nơi tổ chức thi về giao thông, ăn ở, trật tự an ninh…
- Gây nhiều sức ép, lãng phí về thời gian của thí sinh và xã hội, tiền bạc của phụ huynh, sức lực của giáo viên và nhà trường, đầu tư của Nhà nước.
- Thí sinh chỉ thi 1 kỳ thi trong 1 năm. Như người ta nói “học tài thi phận”, nếu chẳng may đề thi rơi vào phần nào đó mà thí sinh chưa thật học kỹ lắm thì có phần thiệt thòi cho thí sinh đó. Mặt khác, hôm thi mà chẳng may gặp sự cố như bị ốm, nhức đầu chóng mặt, tai nạn… thì việc làm bài tất yếu sẽ bị ảnh hưởng.
Tác giả Ngô Tự Lập trong bài “Sự phá sản trên thực tế của kỳ thi đại học” còn nêu những lý do sau:
Kỳ thi hiện hành chỉ phù hợp với thời bao cấp, khi mà mọi học sinh ở nông thôn cũng như thành thị đều có cơ sở được học hành như nhau. Hay nói cách khác là “nền tảng xã hội như nhau”. Không có học thêm, không có luyện thi, không có “phong bì” cho thầy cô.
Nền tảng xã hội bây giờ đã thay đổi. Kẻ giàu, người nghèo đã cách nhau quá xa. Kẻ có tiền đi học thêm, luyện thi ; người không có tiền chỉ biết học trong trường. Kỳ thi đại học “nặng về đánh giá kiến thức “hiện nay chỉ tạo nên những bất công trong xã hội.
Thi đại học đang bị xã hội “vô hiệu hóa”do mở quá nhiều trường, quá nhiều chương trình liên thông, liên kết. (có lẽ do đó nhiều thí sinh điểm thấp vẫn vào được đại học)
Giải pháp sau khi bãi bỏ kỳ thi đại học “3 chung” được đưa ra như sau:
Sử dụng kết quả của kỳ thi trung học phổ thông (THPT) để tuyển sinh vào đại học (thường được gọi là “kỳ thi 2 trong 1”) :
Việc này chúng ta đã làm trong thời gian từ niên khóa 1966- 1967 đến niên khóa 1969 - 1970 .
Trong bài “Suy nghĩ về giai đoạn 1966 – 1969 trong lịch sử ngành đại học của ta”của Tiến sỹ Nguyễn Trọng viết:
Do xuất hiện ý kiến cho rằng tổ chức thi đại học như vậy thiếu quan điểm công nông, thiếu công bằng vì thanh niên nông thôn không thể đọ sức ở các kỳ thi đó. Thế là từ năm 1966 chỉ còn một kỳ thi tốt nghiệp phổ thông. Việc chọn học sinh vào các đại học chủ yếu giao về cho địa phương, và được thực hiện theo phương thức tương tự như tuyển quân. Bộ phân chỉ tiêu từng trường cho từng địa phương. Lãnh đạo địa phương cấp trên phân tiếp chỉ tiêu cho địa phương cấp dưới, cho đến từng hợp tác xã (ở nông thôn miền Bắc khi đó hợp tác xã và xã gần như là một), từng tiểu khu (như phường hiện nay). Quy trình ngược lên là học sinh sẽ được các cán bộ xã, phường (danh từ hiện nay) chọn vào các trường đại học theo chỉ tiêu được phân bổ… Những ai đã giảng dạy đại học vào những năm 1966 – 1969 thì chắc đều thấm cái khó vô cùng tận vì sự chênh lệch quá đáng của trình độ sinh viên trong lớp.
Sau đó, vào những năm 90, trong khoảng mấy năm chúng ta không làm đại trà như những năm 1966 – 1970 mà làm trong một bộ phận học sinh. Đó là tuyển thẳng vào đại học những học sinh đạt tiêu chuẩn học sinh giỏi trong những năm học THPT và trong kỳ thi tốt nghiệp THPT đạt loại giỏi. Thế là chỉ một, hai năm sau số lượng học sinh đạt tiêu chuẩn “hai giỏi”để được tuyển thẳng vào đại học nở như “ngô rang”. Sau khi vào đại học, kiểm tra lại trong những năm học đại học, đa phần những sinh viên “hai giỏi”này học rất kém so với những thí sinh đỗ kỳ thi vào đại học. Nhiều sinh viên này bị lưu ban hoặc bị cho thôi học. Kết quả là phải bỏ cái tiêu chuẩn tuyển thẳng vào đại học này.
Để bổ khuyết cho các cách làm trên, Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục đã đưa ra “ĐỀ ÁN TỔNG THỂ VỀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC THI VÀ TUYỂN SINH ĐẠI HỌC VÀ CAO ĐẲNG”. Đề án này đưa ra các biện pháp chủ yếu như sau:
“Ngoài các điều kiện về học lực và hạnh kiểm theo quy chế quy định: thi 6 môn, bao gồm 3 môn công cụ chung bắt buộc đối với tất cả thí sinh (Ngữ văn, Toán và Ngoại ngữ); 1 môn do Bộ quy định hằng năm, 2 môn do thí sinh tự quyết định trong số các môn còn lại của kỳ thi.
Để đảm bảo cho kết quả kỳ thi trung học phổ thông quốc gia vừa đánh giá được trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông, vừa đánh giá được khả năng vào học trường đại học, cao đẳng, trung cấp, trong đề thi có khoảng 60% số điểm ứng với nội dung cơ bản trong chương trình trung học phổ thông chuẩn, đảm bảo cho những thí sinh có học lực trung bình, nắm được kiến thức cơ bản có thể tốt nghiệp.
Phần còn lại trong đề thi ứng với khoảng 40% số điểm có nội dung trong chương trình trung học phổ thông chuẩn và chương trình trung học phổ thông nâng cao, đòi hỏi thí sinh làm chủ và vận dụng kiến thức cơ bản ở mức cao hơn, đáp ứng yêu cầu phân loại trình độ thí sinh để tuyển vào đại học, cao đẳng, trung cấp. Không chia cơ học các câu hỏi thành 2 phần riêng biệt trong đề thi.” (Nguyễn Hùng, báo Dân trí)
Đặc biệt, yêu cầu tổ chức kỳ thi này phải được nghiêm minh như kỳ thi tuyển sinh vào đại học hiện nay.
Nhưng nội dung của đề án này quá rắc rối và có nhiều phần không hợp lý như nhiều tác giả đã phân tích (Văn Như Cương, Đỗ Văn Xê, Phạm Tất Dong …).
Mặt khác, như ta đã thấy, khi tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT tương đối nghiêm minh trong 2 năm 2007, 2008 thì số học sinh trượt tốt nghiệp ở con số thê thảm.
Niên khóa 2006 – 2007 chỉ tính riêng hệ trung học phổ thông kỳ thi lần một chỉ có 67,5% đỗ tốt nghiệp (thậm chí có trường không đỗ học sinh nào) thêm cả lần hai là 80,38%; hệ trung học bổ túc cả hai đợt là 46,26% so với năm học 2005-2006: THPT: 92% BTTH: 74,6%.
Niên khóa 2007 – 2008 tỷ lệ đỗ khoảng 76%.
Chỉ năm sau, việc thi lại trở lại bình thường và con số học sinh tốt nghiệp THPT dần trở lại con số tốt đẹp như cũ. Vậy, liệu có thể có một kỳ thi tốt nghiệp THPT nghiêm túc như kỳ thi ĐH, CĐ hiện nay không. Đó là một câu hỏi không dễ trả lời. Khả năng kỳ thi 2 trong 1 khó có thể thực hiện.
Các trường đại học tự tổ chức kỳ thi tuyển chọn học sinh vào đại học dưới sự kiểm tra, giám sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo:
Thực ra, cách làm này đã thực hiện từ những năm 1970 – 2001. Ban đầu, các kỳ thi này thực hiện rất tốt. Nhưng càng về sau, các hiện tượng tiêu cực càng nảy sinh. Nhiều đề thi bị đánh giá là kiến thức ngoài sách giáo khoa THPT, hoặc đề thi mang tính đánh đố thí sinh, không thực chất. Nếu học sinh không luyện thi tại chính trường đại học mà mình định thi vào thì khó mà đỗ. Các sỹ tử ngay sau kỳ thi tốt nghiệp vội vàng lôi thôi lếch thếch đến các “lò luyện thi” của các giáo viên trường đại học.
Chính vì thế mà kỳ thi “3 chung” ra đời để tránh những tiêu cực trên.
Hồ Thu (báo Tiền Phong) đã tóm tắt các ý kiến của một số cán bộ giáo dục về việc giao quyền tự chủ cho các trường đại học như sau:
Ông Vũ Văn Hóa - Phó Hiệu trưởng ĐH Kinh doanh và Công nghệ HN gọi việc giao quyền tự chủ tuyển sinh này là một bước cải lùi. Bởi trước đây, các trường đã tự tổ chức thi và vì có nhiều vấn đề nên hình thức thi 3 chung ra đời và mang lại khá nhiều thuận lợi trong tuyển sinh.
Nếu trở lại phương án các trường tự tuyển sinh, theo ông Hóa, sẽ có nhiều hệ lụy. Trước hết là việc tự ra đề thi gây tốn kém. “Để có một đề thi tốn 50 triệu đồng. Sẽ phải mất số tiền khổng lồ khi để hơn 300 trường “tự chủ”ra đề”. Ngoài ra còn những hệ lụy như nở rộ trung tâm luyện thi. Mỗi người ra đề sẽ mở một trung tâm luyện thi như trước đây”.
Ông Nguyễn Hoàng, Trưởng phòng Đào tạo ĐH Mở HN cho rằng “cần cẩn thận với giao quyền tự chủ”. Đối với các trường có số lượng thí sinh đăng ký dự thi lớn như ĐH Mở Hà Nội, phương án thi 3 chung là rất tốt. “Những trường có đủ điều kiện cơ sở vật chất, giáo viên sẽ cảm thấy thật tự do khi được đứng trên đôi chân tự tuyển. Tuy nhiên, tự chủ trong tuyển sinh có đạt được hiệu quả không thì còn băn khoăn”.
Ông Đỗ Xuân Tùng, Phó hiệu trưởng ĐHDL Thăng Long nhấn mạnh: Dù chung hay không chung thì việc ra đề không đơn giản. Nên chăng đưa ra hướng mới để cải tiến hình thức thi 3 chung để có mặt bằng đánh giá chất lượng chuẩn mực. Bộ GD&ĐT có ngân hàng đề thi, các trường chủ động thời gian tuyển sinh và tiếp tục dùng chung kết quả và cùng chung một điều kiện tuyển sinh là điểm sàn. Bộ cần khống chế điểm sàn để đảm bảo chất lượng đầu vào vì điểm sàn như hiện nay là đã ở dưới mức 5 điểm/môn (với cao đẳng còn thấp hơn) và các trường tự phải thích ứng.
Ông Bùi Thiện Dụ, Hiệu trưởng ĐHDL Phương Đông cũng đưa ra giải pháp: Nếu không cho tự chủ, Bộ GD&ĐT vẫn tổ chức một kỳ thi chung cho các môn học và các trường sẽ tuyển chọn theo môn học và nhân hệ số các môn thi theo yêu cầu ngành mình đào tạo.
Hiện nay, Bộ GD&ĐT đang giao cho một số trường đại học nghiên cứu, biên soạn đề án các trường đại học tự chủ tổ chức kỳ thi tuyển sinh vào đại học.
Giữ nguyên kỳ thi “3 chung” như hiện nay.
Như các ý kiến trên đã cho thấy có rất nhiều người ủng hộ kỳ thi này. Trần Phước Lĩnh nêu “10 lý do chưa thể bỏ kỳ thi đại học”. Đặc biệt Nhà giáo nhân dân, GS.TS Lê Kim Truyền, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi , cứ suy nghĩ mãi, không biết “tại sao một số trường cứ đòi quyền tự chủ trong tuyển sinh đầu vào”.
Những lý do nên giữ nguyên kỳ thi này được nêu lên đại thể như sau:
1/ Mục tiêu của kỳ thi tuyển sinh vào đại học khác mục tiêu của kỳ thi tốt nghiệp THPT.
2/ Có chung mặt bằng đánh giá chất lượng ở các trường phổ thông trong cả nước. Ví dụ như danh sách các trường THPT có điểm cao nhất trong kỳ thi vào đại học mà Cục Tin học của Bộ GD & ĐT công bố trong mấy năm vừa qua là một minh chứng cho việc đánh giá chất lượng giáo dục của các tỉnh, thành phố, tuy nó chưa toàn diện.
3/ Nếu chấp nhận lấy kết quả kỳ thi THPT để tuyển sinh thì phải đảm bảo kỳ thi này tổ chức thật nghiêm minh. Như vậy thì chắc chắn số lượng học sinh trượt tốt nghiệp sẽ khá nhiều. Vậy xã hội liệu có chấp nhận kết quả này không.
4/ Các lần xét tuyển không thông qua kỳ thi vào đại học sẽ nảy sinh rất nhiều tiêu cực đã từng xảy ra như đã nêu ở trên
5/ Các trường đại học không phải lo việc ra đề không phù hợp với chương trình phổ thông, mắc sai sót, đỡ tốn kém.
6/ Tạo cơ hội cho học sinh chuyển đổi ngành học, lựa chọn đúng ngành nghề mà khi làm hồ sơ thi tuyển chưa suy nghĩ kỹ càng hoặc thiếu thông tin.
Kỳ sau: Việc tuyển sinh đại học nên tổ chức như thế nào