Bộ trưởng Giáo dục: Havard cũng có sinh viên thất nghiệp

(Giáo dục) - “Có rất nhiều lý do sinh viên ra trường thất nghiệp, Havard cũng có sinh viên thất nghiệp vì người ta ra trường không chọn nghề mà mình đã học”.

Đó là khẳng định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo (GD-ĐT) Phùng Xuân Nhạ tại hội nghị “Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học” được tổ chức sáng ngày 7/1 tại Đà Nẵng.

Dự báo nhu cầu thị trường dựa vào kinh nghiệm

Tham dự hội nghị có sự tham gia của 271 Hiệu trưởng các trường Đại học trên cả nước nhằm tập trung bàn nhiều giải pháp để giải quyết việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp, thực hiện kiểm định chất lượng và tự chủ Đại học.

Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ cho rằng, chúng ta không nên đổ cho ai về việc sinh viên ra trường thất nghiệp mà phải nhìn nhận đúng thực tế. Có rất nhiều lý do sinh viên ra trường thất nghiệp, Havard cũng có sinh viên thất nghiệp vì người ta ra trường không chọn nghề mà mình đã học.

Bo truong Giao duc: Havard cung co sinh vien that nghiep
Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Dân trí

“Chúng ta là những người cung cấp sản phẩm phải phân tích vấn đề này để sinh viên khởi nghiệp chứ không phải thất nghiệp. Chính điều đó dẫn đến xã hội có nhìn nhận chưa toàn diện về thực trạng sinh viên ra trường thất nghiệp hiện nay”, Bộ trưởng Nhạ nhấn mạnh.

Người đứng đầu ngành Giáo dục thừa nhận một thực tế là việc đầu tư cho nghiên cứu dự báo còn hạn chế, chủ yếu vẫn là dự báo dựa vào kinh nghiệm. Điều này dẫn tới tình trạng nhiều ngành rất có triển vọng, nhu cầu thị trường rất lớn nhưng chúng ta lại không đáp ứng được. Trong khi đó có những ngành xã hội không cần hoặc nhu cầu giảm thì đào tạo ở tình trạng thừa.

Ngoài ra, theo Bộ trưởng Nhạ, chúng ta phải có giải pháp chuyển giao công nghệ, thậm chí thuê cả giảng viên nước ngoài để đổi mới chương trình học hiện đại.

“Chúng ta không nên quá câu nệ vào sách vở, ngành truyền thống”, ông Nhạ lưu ý.

Mặt khác, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ cũng nhận định, đội ngũ giảng viên của Việt Nam đang có vấn đề. Chỉ có khoảng 17-20% giảng viên có trình độ từ tiến sĩ, còn lại phổ biến là thạc sĩ, cử nhân.

“Một nền giáo dục mà chỉ có số lượng là tiến sĩ như vậy thì lấy đâu ra chất lượng. Phải tạo sự cạnh tranh, thu hút và bồi dưỡng cho được những giáo viên giỏi, cơ hữu, trọng dụng họ”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

Lời ngược?

Những chia sẻ của Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ tại hội nghị nghị “Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục Đại học” không phải là vấn đề mới. Câu chuyện sinh viên ra trường thất nghiệp hay chất lượng đội ngũ giảng viên đã được nhắc đến nhiều trong thời gian qua.

Cách đây không lâu, tại hội thảo “Thực trạng và các giải pháp cấp thiết củng cố, phát triển các trường Đại học, Cao đẳng ngoài công lập Việt Nam” do Hiệp hội các trường Đại học, Cao đẳng (ĐH, CĐ) Việt Nam tổ chức ngày 22/12, GS Trần Phương – Hiệu trưởng Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội đã thẳng thắn chỉ ra những vấn đề bất cập trong khung chương trình đào tạo cũng như các quy định của ngành Giáo dục khiến sinh viên trở nên lười biếng hơn.

Theo ông Phương, chất lượng đào tạo phụ thuộc vào nội dung đào tạo và thời lượng đào tạo. Hầu hết các nước đều áp dụng khung kiến thức 130 Tín chỉ cho 4 năm đào tạo ĐH.

Ở Việt Nam, Bộ GD-ĐT cũng quy định khung kiến thức 120 Tín chỉ nhưng nội dung của khung kiến thức thì lại không giống nhau.

“130 Tín chỉ của các nước chỉ hướng vào kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp. Trong khi 120 Tín chỉ của ta, ngoài kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, còn bao gồm nhiều thứ “toàn diện” nữa”, ông Phương nhấn mạnh.

Ngoài ra, ông Phương còn khẳng định, vấn đề Ngoại ngữ hiện nay cũng là một gánh nặng quá lớn đối với các trường ĐH, CĐ cũng như các sinh viên.

“Bộ GD-ĐT quy định,  sinh viên không chuyên ngữ phải đạt trình độ B1 về Tiếng Anh khi ra trường. Sinh viên các nước quanh ta khi bước vào trường ĐH đã đạt được trình độ Tiếng Anh đó rồi. Còn sinh viên ta, khi bước vào trường ĐH, hầu hết đều phải học từ đầu. Phải qua 36 Tín chỉ (nghĩa là 1 năm học) mới đạt được trình độ B1.

Cùng thời lượng 130 Tín chỉ, nhưng nội dung chương trình đào tạo của ta nhồi nhét nhiều môn học toàn diện như thế thì trách nào sinh viên của ta chẳng kém chuyên nghiệp”, GS Phương nêu thực trạng.

Trước đó, hồi tháng 5/2016, Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ đã thống kê ở Việt Nam đang có hơn 24.000 tiến sĩ. Nhưng theo thống kê Viện thông tin khoa học (ISI), trong 15 năm qua (1996-2011) Việt Nam mới có 13.172 ấn phẩm khoa học công bố trên các tập san quốc tế có bình duyệt, bằng khoảng 1/5 của Thái Lan, 1/6 của Malaysia, và 1/10 của Singapore.

Chia sẻ quan điểm với Đất Việt về sự bất thường trên, ông Lê Như Tiến – Nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban văn hóa giáo dục thanh, thiếu niên, nhi đồng cho rằng, chúng ta có rất nhiều tiến sĩ, nhưng có rất ít công trình nghiên cứu khoa học công bố kể cả trong nước và ngoài nước, điều này chứng tỏ chúng ta có những tiến sĩ không gắn với nghiên cứu khoa học.

“Mà khi tiến sĩ xa rời nghiên cứu, thậm chí đề tài nghiên cứu không gắn liền với hơi thở của đời sống xã hội, có nghĩa đây chỉ là những tiến sĩ giấy.

Bởi tiến sĩ phải có công trình nghiên cứu khoa học, giáo sư, phó giáo sư càng phải có nghiên cứu khoa học. Chính vì thế, phải xem lại việc bổ nhiệm GS, TS có đúng với quy chuẩn quốc tế, có hội nhập được với kinh tế, khoa học thế giới hay không, hay chỉ làm theo chỉ tiêu, năm nay cần bao nhiêu tiến sĩ, mà không để ý đến chất lượng”, ông Tiến nêu quan điểm.

Hoàng Hà (tổng hợp)

Thứ Bảy, 07/01/2017 15:04


Báo Đất Việt trên Facebook
.
Loading...


Sự Kiện