Đại học hàng đầu Châu Á: Thái Lan bỏ xa Việt Nam

(Giáo dục) - Trong khi Thái Lan, Indonesia, Malaysia cải thiện tên tuổi trong bảng xếp hạng ĐH châu Á 2017, thì Việt Nam không có tên.

Tạp chí Times Higher Education vừa công bố bảng xếp hạng đại học (ĐH) châu Á năm 2017 với 300 trường lọt vào danh sách.

Bảng xếp hạng các trường ĐH châu Á năm 2017 tăng 100 trường so với năm 2016. Tuy nhiên, các trường đại học Việt Nam không có trường ĐH nào lọt vào danh sách này.

Điều đáng nói, trong khi Việt Nam bị tụt hậu thì Thái Lan là đại diện có nhiều trường ĐH lọt danh sách năm 2017 nhất với 10 trường. Trường Đại học được xếp hạng cao nhất là ĐH Mahidol, xếp vị trí thứ 97.

Indonesia có 2 trường ĐH lọt danh sách năm 2017, tăng gấp 2 lần so vơi snăm ngoái. Pakistan có tới 7 trường lọt danh sách này trong khi năm ngoái chỉ có 2 trường.

Dai hoc hang dau Chau A: Thai Lan bo xa Viet Nam

Top 10 trường ĐH hàng đầu châu Á 2017 theo danh sách của THE.

Trong số các quốc gia mới nổi thì Malaysia được cho là quốc gia châu Á có tiềm năng lớn nhất. Quốc gia này có tới 9 trường lọt vào danh sách năm nay trong đó có 7 trường lọt top 200. Năm ngoái, Malaysia chỉ có 4 trường vào danh sách.

Bảng xếp hạng đại học châu Á của Times Higher Education được bình chọn dựa trên 13 tiêu chí chia thành 4 lĩnh vực: giảng dạy chiếm 25%, nghiên cứu 30%, tầm ảnh hưởng nghiên cứu chiếm 30%, triển vọng quốc tế chiếm 7,5% và chuyển giao kiến thức 7,5%.

Có lẽ điều này không có gì đáng ngạc nhiên với Việt Nam, khi trước đó, Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ đã thống kê ở Việt Nam đang có hơn 24.000 tiến sĩ và 101.000 thạc sĩ. So với năm 1996 đội ngũ này tăng trung bình 11,6%/năm, trong đó TS tăng 7%/năm, thạc sĩ tăng 14%/năm.

Thế nhưng, theo thống kê Viện thông tin khoa học (ISI), trong 15 năm qua (1996-2011) Việt Nam mới có 13.172 ấn phẩm khoa học công bố trên các tập san quốc tế có bình duyệt, bằng khoảng 1/5 của Thái Lan, 1/6 của Malaysia, và 1/10 của Singapore. Trong khi đó, dân số Việt Nam gấp 17 lần Singapore, ba lần Malaysia và gần gấp rưỡi Thái Lan.

Đáng giật mình là Việt Nam hiện nay có khoảng 9.000 giáo sư và phó giáo sư, 24.000 tiến sĩ và hơn 100.000 thạc sĩ mà số ấn phẩm khoa học của cả nước trong vòng 15 năm qua chưa bằng 1/5 số công bố của trường ĐH Tokyo (69,806 ấn phẩm).

Chúng ta cần đến hơn nửa thế kỷ nữa để đuổi kịp năng suất hiện tại của Thái Lan, Malaysia chứ chưa nói gì đến Singapore hay các nước tiên tiến khác trên thế giới.

Dai hoc hang dau Chau A: Thai Lan bo xa Viet Nam

Nhiều Tiến sĩ, Thạc sĩ nhưng ít công bố khoa học

Đưa ra quan điểm vấn đề này, trao đổi với báo chí, PGS.TS Phạm Bích San - Phó tổng thư ký Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), cho biết: “Số giáo sư, TS chúng ta nhiều nhất Đông Nam Á nhưng không có trường ĐH Việt Nam nào được đứng trong bảng xếp hạng 500 trường ĐH hàng đầu thế giới. Số lượng các bài báo công bố quốc tế của cả nước gần 90 triệu dân trong một năm chỉ bằng số lượng của một trường ĐH ở Thái Lan”.

TS San nhấn mạnh: “Chúng ta gần như không có ai có nghiệp khoa học, tức là những người lao động quên mình trong khoa học và được ghi nhận bằng các giải thưởng khoa học quốc tế tầm cỡ”.

Đồng quan điểm, PGS.TS Hồ Uy Liêm - nguyên Phó chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), cũng cho rằng: “Ngay các công trình chuẩn khoa học của nước nhà cũng rất ít. Việt Nam chưa bao giờ thống kê được có bao nhiêu đề tài khoa học được nghiên cứu, bao nhiêu phần trăm đề tài đó được ứng dụng trong cuộc sống.

Người làm đề tài ít để ý cái mình làm có bị trùng hay không. Thậm chí, người đi sau làm trùng đề tài lại được đánh giá tốt hơn…”.

Nhận định thêm, PGS.TS Đặng Xuân Thi, Viện Nghiên cứu cơ khí, cho rằng: “Tuyệt đại nội dung các đề tài mà chúng ta tiến hành nghiên cứu là ứng dụng những thành tựu của thế giới vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Những vấn đề mà chúng ta chọn làm mục tiêu nghiên cứu đối với thế giới thường là quá cũ, có khi cũ đến hai, ba hoặc cũng có thể tới bốn chục năm.

 Tên đề tài thường chung chung, không có giới hạn cụ thể. Tỷ lệ kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào sản xuất có lẽ chỉ khoảng vài ba phần trăm.

Đề cương nghiên cứu của đề tài thường “rộng”, nhiều nội dung nhưng kết quả đạt được thì quá khiêm tốn, lặp đi lặp lại, bảo vệ đạt “xuất sắc” nhưng không để làm gì ngoài việc nộp cho Bộ KH-CN và gấp bỏ tủ!”.

Thành Nam

Thứ Bảy, 18/03/2017 07:57


Báo Đất Việt trên Facebook
.


Sự Kiện