Dạy và học tiếng Anh: Lại câu chuyện ba nhà

(Diễn đàn trí thức) - Nhà giáo, nhà nghiên cứu và nhà quản lý giáo dục cần phải có phương pháp giáo dục đáp ứng yêu cầu cuộc CM 4.0: Giỏi nghề & giỏi giao tiếp.

Tại Diễn đàn khoa học "Phương pháp Dạy và Học tiếng Anh nhanh BBST để hội nhập quốc tế trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0” do Liên hiệp các Hội Khoa học- Kỹ thuật Việt Nam tổ chức, Thạc sĩ TESOL Nguyễn Quý Tâm, Giảng viên chính, Khoa Anh (Đại học Hà Nội) đã có ý kiến tham luận. Báo Đất Việt xin được trích dẫn toàn văn tham luận của Thạc sỹ  Nguyễn Quý Tâm:

Day va hoc tieng Anh: Lai cau chuyen ba nha
Thạc sĩ TESOL Nguyễn Quý Tâm, Giảng viên chính, Khoa Anh (Đại học Hà Nội) phát biểu tại Hội thảo.

Từ trước đến nay, việc dạy tiếng Anh có thể được khái quát lại theo 2 xu thế: dạy ngữ pháp (trong đó có cấu trúc câu) là chính; và dạy mẫu câu theo tình huống (thực tế hoặc giả định).

Từ những năm 1970 trở về trước là thời kỳ dạy ngữ pháp và cấu trúc câu chiếm vị trí độc tôn, sau này nhờ có những nghiên cứu của Stenphen Krashen về Cảm thụ thu nhận khi học Ngôn ngữ thứ hai (Second Language Acquisition – SLA) thì xu thế dạy theo tình huống và chức năng sử dụng của câu mới lên ngôi và được áp dụng cho việc biên soạn các giáo trình tiếng Anh.Và dù dạy theo cách tiếp cận nào đi chăng nữa thì kết quả học tập luôn là một thước đo khách quan nhất.

Lịch sử việc dạy ngoại ngữ đã từng ghi nhận những thành công và khiếm khuyết cần khắc phục của cả 2 xu thế trên khi triển khai độc lập trên lớp, mô tả một cách tóm tắt nhất đó là: Nếu chỉ giỏi về ngữ pháp thì khi cần giao tiếp với người nước ngoài học viên lại tỏ ra lúng túng; nếu chỉ học mẫu câu thông qua tình huống thì khi gặp các tình huống khác lại không biết vận dụng và sợ sai thì, thời, và từ vựng,…

Cái vòng luẩn quẩn này tồn tại trên thế giới cũng như ở Việt Nam không biết bao năm và cho đến tận bây giờ, cũng có thể là trong cả tương lai nếu không có những chuyển biến trong phương pháp giảng dạy và nhận thức của người đứng lớp.

Day va hoc tieng Anh: Lai cau chuyen ba nha

Với một môi trường học ngoại ngữ như ở Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại thì kết hợp cả hai cách tiếp cận trên xem ra là hướng khả thi nhất vì kết hợp được ưu điểm (và học liệu) sẵn có của mỗi phương pháp và thỏa mãn được tối đa tâm lý cầu toàn của người học Việt Nam. Vấn đề đặt ra là người kết hợp được cả hai phương pháp đó, tức là giáo viên đứng lớp, và công cụ triển khai, tức là công cụ giảng dạy có đáp ứng được những yêu cầu mà giải pháp kết hợp này đòi hỏi hay không. Câu trả lời là có.

Người xưa có câu “Biết người biết ta”, “Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng”, nếu chúng ta biết người học ngoại ngữ thường sử dụng một cách hết sức tự nhiên một số hình thức tư duy chính khi ngồi trên lớp tiếp thu bài giảng, khi nghiên cứu ví dụ giáo viên dẫn chứng bằng các góc độ khác nhau xem các ví dụ đó có tính thuyết phục và làm rõ nội dung giảng dạy hay không, xem nội dung mà giáo viên truyền đạt có thật sự xuất hiện trong cuộc sống hay không, khi hiểu ra vấn đề thì vấn đề đó có thiết thực không, có đáng nhớ không, khi làm bài tập hoặc khi sử dụng trong thực tế thì sẽ có những biến thể gì, có (dễ) bị mắc lỗi hay không,… Các hình thức tư duyđó thường là:

+ Tư duy đối chiếu thực tế cuộc sống với kiến thức (sách vở) do giáo viên truyền thụ

+ Tư duy đối chiếu ngôn ngữ nước ngoài với ngôn ngữ mẹ đẻ

+ Tư duy hình ảnh (2D, 3D)

+ Tư duy sơ đồ

+ Tư duy đối chiếu trước sau (còn gọi là tư duy trục tuyến tính thời gian)

Nếu coi người học làm trung tâm thì người xây dựng chương trình cần phải biết được các hình thức tư duy này để làm cơ sở xây dựng chương trình, tương tự như vậy, người viết giáo trình, người sử dụng giáo trình (tức là giáo viên) cũng có cơ sở biện minh rõ ràng cho nội dung hoặc phương pháp giảng dạy của mình.
 
Dưới góc độ sư phạm, người giáo viên cần phải giải quyết được 3 vấn đề chính phát sinh trong một khóa học như sau:

+ Học viên cảm thấy những gì mình học không gắn liền với thực tế sử dụng (tính thực tiễn) hoặc nhu cầu tương lai: Nội dung học quá sách vở, giáo viên hầu như chỉ dạy theo sách (từ trang đầu đến trang cuối) mà không chú ý đến khả năng cảm thụ / tiếp nhận của học viên. Việc giáo viên có tài liệu học viên cũng có tài liệu khiến nhiều giáo viên rơi vào tình trạng “chẳng còn gì để nói”. Qui định của lịch trình một buổi / 1 tiết phải dạy từ trang nào đến trang nào cũng khiến cho giáo viên không có cơ hội mở rộng nội dung giảng dạy hoặc đi sâu vào một/những vấn đề học viên quan tâm dù biết đấy là một vấn đề hay.

+ Cảm thấy các nội dung học được không có hệ thống, càng học càng mung lung: Nội dung học quá nhiều mà giáo viên không có ý thức xâu chuỗi hoặc nhắc lại những nội dung bài trước đã dạy khiến học viên rơi vào cảm giác “lạc giữa rừng rậm”. Bản thân người học chưa đủ khả năng tự lý giải những vướng mắc nên không làm chủ được kiến thức, dẫn đến càng học càng quên. Đến một thời điểm nào đó sẽ sinh chán nản, hoặc buông xuôi, hoặc bỏ học. Nói chỉ sợ lỗi.

Thứ Hai, 03/06/2019 10:37

Đọc nhiều nhất
Loading...
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện