Một năm sau Nghị quyết 120: Vấn đề và Kiến nghị

(Diễn đàn trí thức) - Tác giả nêu lên một số vấn đề cần được gấp rút quan tâm và một số kiến nghị.

Một năm sau Nghị quyết 120, vấn đề và kiến nghị 

Nguyễn Ngọc Trân [1]

Nghị quyết của Chính phủ số 120/NQ-CP về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đỏi khí hậu, ban hành đến nay đã 13 tháng. Công văn 13449/VPCP-NN của Văn phòng Chính phủ về việc lập kế hoạch triển khai nghị quyết ngày 18.12.2017 gửi đến các Bộ, 13 tỉnh thành phố ở ĐBSCL và Thành phố Hồ Chí Minh đến nay cũng đã đúng một năm. 

Mot nam sau Nghi quyet 120: Van de va Kien nghi
 

Nghiên cứu các văn bản (cho dù chưa đầy đủ từ các Bộ) và từ thực tế tình hình ở ĐBSCL trong năm qua, tác giả nêu lên một số vấn đề cần được quan tâm và một số kiến nghị.

Ở cấp độ của NQ 120

          Những bổ sung nhiệm vụ cần thiết

         + Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý nhà nước hàng năm một khoảng ngân sách khá lớn chi cho các chương trình cấp quốc gia và nhà nước như Chương trình Tây Nam Bộ, các Chương trình KCKX có những nhiệm vụ liên quan đến ĐBSCL. Bộ KHvCN và các chương trình này có nhiệm vụ triển khai NQ 120.

         + Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các tỉnh, thành phố ở ĐBSCL, phải đề xuất các phương án phù hợp giải quyết cho bằng được tình trạng mãn tính đồng bằng là vùng trũng về GD ĐT, và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực ở đây. Đây là điều kiện tiên quyết để ĐBSCL phát triển bền vững và đạt được các mục tiêu mà NQ 120 đặt ra vào năm 2050, tầm nhìn đến năm 2100.

        + Bộ Giao thông vận tải giải quyết tình trạng hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy nội địa và đường hàng hải hết sức bất cập, và kinh niên, đối với sản xuất và xuất nhập khẩu hàng hóa của đồng bằng sông Cửu Long [2]. Hiện đây là một tắt nghẽn cần được giải quyết nếu muốn ĐBSCL phát triển và đi lên bền vững.

          Những quan tâm thường trực về chất lượng

Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao phụ trách xây dựng Chương trình hành động tổng thể thực hiện NQ, trình TTCP trước cuối tháng 2.2018.

Trong nhiệm vụ này cần quan tâm đặc biệt đến chất lượng của ba văn bản rất quan trọng đối với ĐBSCL, và có liên quan mật thiết với nhau. Đó là:

       + “Rà soát, hoàn thiện, lập quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch tài nguyên nước, quy hoạch bảo vệ môi trường, quy hoạch khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ của đồng bằng sông Cửu Long” (do Bộ TNvMT phụ trách);

       + Chương trình tổng thể phát triển nông nghiệp bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu gắn liền với cơ cấu lại ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới (do Bộ NNvPTNT phụ trách, trình Thủ tướng Chính phủ trước tháng 12.2018).

Vấn đề cần làm rõ ở đây là nội hàm của “Chương trình tổng thể …” bởi cái được chờ đợi là một quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu gắn liền với cơ cấu lại ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Đây là một thành phần không thể thiếu để tích hợp đa ngành vào nhiệm vụ tiếp sau đây.

        + Quy hoạch tổng thể phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 thích ứng với biến đổi khí hậu do Bộ Kế hoạch Đầu tư phụ trách (tiểu dự án 6, WB tài trợ), trình TTCP trước quý III 2020.

Ngoài ra Bộ Kế hoạch và Đầu tư còn được giao phụ trách “Rà soát, đánh giá cơ chế thí điểm điều phối vùng theo Quyết định số 593/QĐ-TTg ngày 06 tháng 4 năm 2016 trình Thủ tướng Chính phủ các giải pháp hoàn thiện cơ chế điều phối, phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có việc thành lập Hội đồng điều phối vùng”.

Ở cấp độ kế hoạch hành động của các Bộ ngành và địa phương

Tác giả đã tham khảo được kế hoạch hành động của bốn Bộ Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kế hoạch và Đầu tư, và Xây dựng và của một số tỉnh, thành phố. Xin có một số nhận xét ban đầu dưới đây.

(1) Kế hoạch hành động của các Bộ đề ra rất nhiều nhiệm vụ (hay nội dung). Cần phân rõ ba loại nhiệm vụ: (a) những nhiệm vụ xưa nay vẫn làm nay có nội dung gì mới; (b) nhiệm vụ nào là mới do NQ đặt ra, và (c) trong các loại nhiệm vụ đó, nhiệm vụ nào được các tổ chức quốc tế tài trợ.

(2) Sự phối hợp trong Bộ để hoàn thành một nhiệm vụ được Bộ TNvMT chú ý khi phân công. Trong khi đó ở Bộ NNvPTNT, nhiệm vụ 2, việc rà soát quy hoạch nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp không thấy có sự phối hợp giữa Vụ Kế hoạch, Tổng Cục Thủy sản, Tổng Cục Lâm nghiệp, và Tổng Cục Thủy lợi. Tương tự, các nhiệm vụ 5 (Thủy sản), 6 (Lâm nghiệp), 7 (Thủy lợi) hình như là công việc của riêng từng Tổng Cục.

Ở Bộ NNvPTNT có quy hoạch thủy sản, lâm nghiệp, nông nghiệp. Có chương trình tổng thể phát triển nông nghiệp bền vững… Không có quy hoạch thủy lợi mà có quy hoạch thủy lợi phòng chống thiên tai (do TC Thủy lợi phụ trách) và có quy hoạch chỉnh trị sông (…) theo hướng dành không gian cho thoát lũ (do TC phòng chống thiên tai phụ trách).

(3) Sự phối hợp giữa các Bộ vẫn chưa thấy chuyển biến trong các kế hoạch hành động [3], đặc biệt giữa Bộ NNvPTNT với Bộ TNvMT về thủy lợitài nguyên nước. Việc nghiên cứu, dự báo và đánh giá tác động của biến đổi khí hậu chẳng hạn là chuyện của riêng Viện khoa học Thủy lợi Việt Nam, không phối hợp với Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước quốc gia, Viện Khoa học về Tài nguyên nước quốc gia, và Cục Biến đổi khí hậu bên Bộ TNvMT.

Tình trạng phân chia manh mún, thừa chồng chéo nhưng thiếu phối hợp mà NQ yêu cầu phải chấn chỉnh hình như chưa được quán triệt. 

(4) Nhiệm vụ 1 của Bộ NNvPTNT là “Xây dựng Chương trình tổng thể phát triển nông nghiệp bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH gắn liền với cơ cấu lại ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới (…)” mà sản phẩm được trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cuối năm 2018.

“Chương trình tổng thể” là gì, chúng tôi đã nêu câu hỏi ở đoạn trên. Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 12.2018 liệu có khả thi khi mà thời hạn hoàn thành các nhiệm vụ khác là 2018 – 2019, thậm chí vào năm 2020?  Trong Chương trình này có đề cập đến dự án hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé hay không? Dự án này đang còn nhiều tranh luận, vì trong khi có nhiều nhân tố bất định, nó có thể gài Quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp bền vững trước sự việc đã rồi bằng những công trình mà độ hối tiếc cao. Vả lại, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến về dự án phải “đảm bảo chặt chẽ, khoa học tuân thủ pháp luật hiện hành về đầu tư, xây dựng và bảo vệ môi trường và NQ 120”. (CV số 11482/VPCP-NN ngày 24.11.2018, trả lời Báo cáo 7627/BC-BNN-XD ngày 28.09.2018).  

(5) Những nhiệm vụ mang tính tổng hợp, trong phạm vi một Bộ cũng như khi có liên quan đến nhiều Bộ, cần làm rõ phương pháp luận tổng hợp.

Phương pháp luận tổng hợp không rõ sẽ không có số liệu, dữ liệu cần có, theo những định dạng cần có. Điều này là vô cùng quan trọng đối với “Quy hoạch tổng thể phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 thích ứng với biến đổi khí hậu” do Bộ Kế hoạch Đầu tư phụ trách (tiểu dự án 6, WB).

 Phương pháp luận tổng hợp rõ ràng sẽ cho phép ứng dụng các cơ sở dữ liệu lớn vào công tác tổng hợp.

(6) Từ hai năm nay, vấn đề liên kết các tiểu vùng của ĐBSCL đã được nói đến nhiều trong nhiều hội thảo. Tuy nhiên hình như chưa đi tới được bao nhiêu. Nội hàm của liên kết chưa được làm rõ, sản phẩm của liên kết (là một quy hoạch tổng thể tiểu vùng hay một đề án, hay là một cái gì khác), phương pháp luận xây dựng liên kết cũng vậy.

Nếu không làm rõ những vấn đề này thì khó có được sự đồng thuận cao của các tỉnh trong cùng tiểu vùng, và nếu được Thủ tướng cho phép triển khai, liên kết các tiểu vùng ở ĐBSCL sẽ mỗi nơi làm một cách, không thể nào kết nối lại với nhau. Điều này sẽ làm chậm, thậm chí kéo lùi sự nghiệp liên kết vùng.  

(7) Tác giả chưa tham khảo được kế hoạch hành động của Bộ GTVT. Những đề xuất tác giả đã nêu ở phụ chú 2, trang 1.

(8) Tác giả cũng chưa tham khảo được kế hoạch hành động của Bộ Công Thương. Tuy nhiên thực tế cho thấy yêu cầu của NQ đối với việc xây dựng các nhà máy nhiệt điện than ở ĐBSCL [4] chưa được triển khai đúng và quyết liệt theo NQ.

Kiến ngh

Xin kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ:

1. Giao thêm nhiệm vụ cho Bộ Khoa học và Công nghệ, cho Bộ Giáo dục và Đào tạo và các địa phương ở ĐBSCL, và cho Bộ Giao thông vận tải.

2. Cần thiết phải có “Quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH gắn liền với cơ cấu lại ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới”.

3. Vấn đề liên kết vùng cần được triển khai tiếp, có cơ sở khoa học hơn.

 4. Mọi nhiệm vụ mang tính tổng hợp phải làm rõ phương pháp luận tổng hợp. Đây là yêu cầu cần có để áp dụng các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào công tác tổng hợp.

 5. Xem xét cụ thể các kế hoạch triển khai NQ 120 của các Bộ ngành mới thấy rõ thêm mức độ đáng lo về sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ trong các Bộ, và giữa các Bộ, đồng thời sự thiếu phối hợp trong các Bộ và giữa các Bộ. Cân nhắc việc triển khai NQ 120 cùng lúc với giải quyết nạn chồng chéo và thiếu phối hợp. Chọn lĩnh vực thí điểm rất thiết thân với ĐBSCL là tài nguyên nướcthủy lợi.   

 6. Cần quán triệt NQ 120. Nói theo kiểu “tát nước theo mưa”, “nói theo NQ 120” mà làm vẫn như cũ là tối kỵ để triển khai thành công NQ 120.

7. Để việc triển khai NQ 120 thêm phần khách quan, có đóng góp của các nhà khoa học, công khai các quy hoạch, kế hoạch, dự án, công trình có tác động quan trọng đến môi trường, ngay từ giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi và khả thi trên cổng thông tin điện tử của các Bộ chủ quản đầu tư.

Chú Thích: 


[1] Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, Đại biểu Quốc hội các khóa IX, X,  XI.

[2] Có ít nhất hai việc cần làm: (a) Đánh giá việc triển khai dự án “Luồng cho tàu có trọng tải lớn vào sông Hậu qua kênh Quan Chánh Bố”, việc thực hiện các kết luận của Kiểm toán Nhà nước dự án này tháng 3/2017, và việc kiểm điểm của các đơn vị đã có sai sót. (b) Làm rõ chủ trương của Bộ đối với luồng vào sông Hậu qua cửa Định An, đã hai năm 2017 và 2018 không được nạo vét, trong khi đó chi phí nạo vét cao gấp cả chục lần được cấp cho nạo vét Kênh Tắt và Kênh Quan Chánh Bố nhưng vẫn chưa đúng chuẩn thiết kế, mà theo luận chứng khả thi không cần phải nạo vét.

[3] Qua văn bản của các Bộ, Bộ Xây dựng thể hiện tinh thần phối hợp khá rõ. Bộ yêu cầu các đơn vị trong Bộ chủ trì các nhiệm vụ phải phối hợp với các đơn vị trong Bộ và ngoài Bộ.

[4] Đó là phê duyệt quy hoạch địa điểm, giám sát chặt chẽ việc triển khai đầu tư xây dựng các nhà máy nhiệt điện than tại vùng đồng bằng sông Cửu Long trong Quy hoạch điện VII phải bảo đảm công nghệ mới, hiện đại, bảo đảm tuyệt đối không gây ô nhiễm môi trường; tập trung khai thác tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo, trước hết là năng lượng gió và năng lượng mặt trời.

Thứ Hai, 24/12/2018 07:50

Đọc nhiều nhất
Sự Kiện