Nhiệt điện than trong tổng sơ đồ năng lượng QG đổi mới

(Diễn đàn trí thức) - Bài tham luận của GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân được trình bày tại cuộc tọa đàm về Nhiệt điện do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức tại Hà Nội

(3) Tăng trưởng NLQG phải đi trước và là tiền đề cho tăng trưởng kinh tế. Nhưng với tốc độ nào, liên quan ra sao với hệ số đàn hồi điện là hợp lý? Nhớ rằng:

Nhu cầu và tốc độ tăng trưởng của NLQG còn tùy thuộc vào mô hình tăng trưởng kinh tế;

Mô hình tăng trưởng kinh tế ngày nay của các nước đã thay đổi dưới tác động của hai cuộc cách mạng công nghiệp lần thú ba và lần thứ tư;

Tạo ra nguồn NL mới phải đi cùng với tiết kiệm trong sử dụng NL;

Mô hình tính toán nhu cầu và tốc độ tăng trưởng của NLQG theo tăng trưởng GDP, và phân bổ các dạng năng lượng cần thường xuyên được cập nhật

Tỷ trọng của kinh tế tri thức ngày càng tăng. Công nghệ thông tin, tự động hóa, kinh tế công nghiệp 4.0, kinh tế nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thương mại điện tử, và một số ngành kinh tế dịch vụ, sử dụng NL ít hơn các ngành công nghiệp nặng nhưng đóng góp không kém phần quan trọng cho GDP.

(4) Mô hình tăng trưởng kinh tế lại phải được lồng vào bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập quốc tế, biến đổi khí hậu toàn cầu và phải tính đến những tham vọng của các siêu cường về lãnh thổ, lãnh hải và tài nguyên thiên nhiên.

(5) Tổng sơ đồ phải tính đến tiềm năng năng lượng của các vùng kinh tế - sinh thái của đất nước, khai thác tối đa các tiềm năng này để đóng góp vào tổng sơ đồ, đồng thời phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Sự đổi mới này trong xây dựng tổng sơ đồ năng lượng quốc gia còn giúp tối ưu hóa mạng lưới truyền tải điện quốc gia, giải tỏa ràng buộc và áp lực “thêm 1MW cần 11 km đường dây”.

Một ví dụ cụ thể đó là tiềm năng NL Gió ở duyên hải Trung Bộ, Nam Bộ và Tây Nguyên, và tiềm năng NLMT suốt dọc duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ thuộc loại cao nhất nước.

(6) Kết hợp tập trung với phân tán, giảm tải cho tập trung, cùng lúc với phát huy tiềm năng của phân tán được định hướng bằng chính sách của Nhà nước. 

Có như vậy mới tìm được giải pháp cho các bài toán nan giải với cách tiếp cận tập trung bao cấp: đầu tư bao nhiêu để tạo ra một việc làm mới? (USD/job); để có thêm 1MW mới cần 11,8 km đường dây?; cần đầu tư bao nhiêu để tăng thêm 1m2 nhà ở/người dân ở Hà Nội, (câu hỏi từ những năm 1980), v.v. …

Năng lượng phân tán, một mặt sẽ giảm tải cho tập trung, mặt khác sẽ tạo ra việc làm mới (job engine) mà người dân tự đầu tư và hưởng thụ thành quả. (Xã An Bình (Lý Sơn) từ khi có điện là một ví dụ).

(7) Tầm quan trọng, vai trò của chính sáchNhà nước kiến tạo cần ban hành. Chính sách đúng sẽ giải phóng năng lực của xã hội. Đó là một trong những bài học lớn của Đổi Mới 1986.

(8) Các tiếp cận trên đây đan kết với nhau. Do vậy cách xây dựng tổng sơ đồ cần được đổi mới với tầm nhìn rộng, với quan điểm hệ thống và động, và tư duy luôn đổi mới.

Chú thích:

(*) Bài tham luận được trình bày tại cuộc tọa đàm về Nhiệt điện do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức tại Hà Nội, ngày 05.03.2019.

(1) Xem thêm: Shannon N. Koplitz et al, Burden of Disease from Rising Coal-Fired Power Plant Emissions in Southeast Asia. Environ. Sci. Technol. 2017, 51, 1467−1476, DOI: 10.1021/acs.est.6b03731

(2) EVN, Tổng hợp tình hình tro xỉ tại các NMNĐ than của EVN. Tài liệu Hội nghị “Sản xuất VLXD từ tro xỉ” Hà Nội, 20/6/2018.

(3) Công việc đã được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Kỹ thuật hạt nhân thuộc Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 04.03. 2019

  • GS. TSKH Nguyễn Ngọc Trân
    Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy Ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước (1980-1992), nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy Ban Đối ngoại của Quốc Hội (1997-2007), Đại biểu Quốc hội (1992-2007).

Thứ Hai, 11/03/2019 07:43

Đọc nhiều nhất
Sự Kiện