Phát triển năng lượng tái tạo: Định hướng trong tương lai

(Diễn đàn trí thức) - Nhà nước đang xây dựng cơ chế phát triển mạnh mẽ các nguồn năng lượng tái tạo nhằm thay thế tối đa các nguồn năng lượng hoá thạch.

Ông Nguyễn Ngọc Trung - Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Công nghiệp (Ban Kinh tế Trung ương) cho biết, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề phát triển năng lượng và xác định đây là nhiệm vụ quan trọng, với quan điểm là phát triển năng lượng cần đi trước một bước để thúc để phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Trong thời gian qua, phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) ở nước ta đã ngày càng được coi trọng với sự tham gia ngày càng lớn của thành phần kinh tế tư nhân.

Phát triển NLTT hiện nay là xu thế chung trên thế giới, khi các quốc gia đều muốn tìm kiếm một nguồn năng lượng sạch, tiềm năng vô cùng lớn để thay thế những nguồn năng lượng truyền thống, gây ô nhiễm môi trường.

Trên cơ sở tổng kết 15 năm thực hiện Kết luận số 26-KL/TW, ngày 24/10/2003 của Bộ Chính trị khoá IX về Chiến lược và quy hoạch phát triển ngành điện lực Việt Nam và tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2007 của Bộ Chính trị khoá X về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050; ngày 11/2/2020, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 55 về Định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đối với năng lượng tái tạo, Nghị quyết 55 đã xác định cần:

“Xây dựng các cơ chế, chính sách đột phá để khuyến khích và thúc đẩy phát triển mạnh mẽ các nguồn năng lượng tái tạo nhằm thay thế tối đa các nguồn năng lượng hoá thạch.

Ưu tiên sử dụng năng lượng gió và mặt trời cho phát điện; khuyến khích đầu tư xây dựng các nhà máy điện sử dụng rác thải đô thị, sinh khối và chất thải rắn đi đôi với công tác bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế tuần hoàn. Hình thành và phát triển một số trung tâm năng lượng tái tạo tại các vùng và các địa phương có lợi thế.

Sớm nghiên cứu, đánh giá tổng thể về tiềm năng và xây dựng định hướng phát triển năng lượng địa nhiệt, sóng biển, thuỷ triều, hải lưu; triển khai một số mô hình ứng dụng, tiến hành khai thác thử nghiệm để đánh giá hiệu quả. Thực hiện nghiên cứu công nghệ, xây dựng một số đề án thử nghiệm sản xuất và khuyến khích sử dụng năng lượng hydro phù hợp với xu thế chung của thế giới” - ông Trung cho hay.

Phat trien nang luong tai tao: Dinh huong trong tuong lai
Ông Nguyễn Ngọc Trung - Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Công nghiệp (Ban Kinh tế Trung ương).

Đồng thời xác định mục tiêu cụ thể là: Tỉ lệ các nguồn năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt khoảng 15 - 20% vào năm 2030; 25 - 30% vào năm 2045.

Cụ thể hơn, Nghị quyết 55 nêu:

Đối với thuỷ điện cần “Huy động tối đa các nguồn thuỷ điện hiện có. Phát triển có chọn lọc, bổ sung một số thuỷ điện nhỏ và vừa, thuỷ điện tích năng. Có chiến lược hợp tác phát triển thuỷ điện gắn với nhập khẩu điện năng dài hạn từ nước ngoài”.

Đối với điện gió và điện mặt trời cần “Khuyến khích phát triển điện mặt trời áp mái và trên mặt nước. Xây dựng các chính sách hỗ trợ và cơ chế đột phá cho phát triển điện gió ngoài khơi gắn với triển khai thực hiện Chiến lược biển Việt Nam”.

Đối với điện sinh khối rác thải và chất thải rắn cần “Khai thác tối đa nguồn điện sinh khối đồng phát; tăng cường phát triển các nguồn điện từ rác thải đô thị, chất thải rắn và sinh khối”.

Trên thực tế, Chính phủ cũng đã xây dựng và triển khai thực hiện Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 2068/QĐ-TTg, ngày 25/11/2015).

Sau đó, ngày ngày 18/3/2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 428/QĐ-TTg phê duyệt Tổng sơ đồ điện VII điều chỉnh; trong đó đã xác định mục tiêu cụ thể đối với điện gió và mặt trời tương ứng đến năm 2020 là 800 MW và 850 MW, đến năm 2025 là 2.000 MW và 4.000 MW và đến năm 2030 là 6.000 MW và 12.000 MW.

Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã có những cơ chế, chính sách mạnh, đặc biệt là cơ chế giá FIT rất hấp dẫn để thúc đẩy phát triển điện gió và điện mặt trời; tính đến hết tháng 9/2020, Việt Nam đã đưa vào vận hành 5.733 MW (điện gió là 444 MW và điện mặt trời là 5.289 MW), vượt xa so với mục tiêu là 1.650 MW đề ra tại Tổng sơ đồ VII điều chỉnh.

Hiện nay, Việt Nam đang hoàn thiện và xây dựng Tổng sơ điện VIII. Theo đó, năng lượng tái tạo đến năm 2030 dự kiến sẽ chiếm khoảng 30% trong cơ cấu nguồn điện quốc gia (trong Tổng sơ đồ điện VII điều chỉnh chỉ chiếm 8,7%), công suất lắp đặt điện gió và mặt trời dự kiến khoảng 19.410 MW và 18.890 MW tương ứng, đến năm 2045 sẽ lên 60.210 MW và 52.990 MW tương ứng (tổng cộng chiếm khoảng 41% trong cơ cấu nguồn điện quốc gia, 274.811 MW).

Trên cơ sở Nghị quyết 55 và tình hình thực tế về phát triển năng lượng hiện nay, Chính phủ sẽ sớm xây dựng mới và ban hành Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; trong đó sẽ chú trọng gia tăng NLTT trong cơ cấu năng lượng quốc gia.

Việc đảm bảo an ninh năng lượng trên phương diện quốc gia chính là sự duy trì liên tục, ổn định và đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng năng lượng với mức giá cả chấp nhận được

Trong đó các vấn đề về giá cả và sự đa dạng về nguồn cung cấp là những yếu tố có tính quyết định đến an ninh năng lượng xét trên góc độ lợi ích quốc gia. Do việc dần cạn kiệt của các nguồn nhiên liệu hóa thạch, suy thoái môi trường toàn cầu, các biến động chính trị, an ninh thế giới trị khó lường trước và các khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra trên phạm vi toàn cầu thì vấn đề an ninh năng lượng càng được nhiều quốc gia quan tâm và tìm giải pháp giải quyết vấn đề an ninh năng lượng của quốc gia mình.

Có nhiều cách tiếp cận về các phương pháp và công cụ tính toán xác định mức độ đảm bảo an ninh năng lượng; theo đó: (i) Phương pháp đánh giá của các quốc gia phát triển và Tổ chức năng lượng quốc tế (IEA), bao gồm 08 dấu hiệu đơn lẻ sau: về nguồn tài nguyên năng lượng, tỷ lệ Dự trữ/Sản xuất, sự đa dạng, sự phụ thuộc nhập khẩu, sự ổn định chính trị, giá năng lượng, tỉ lệ sử dụng các nhiên liệu có gốc carbon, tính thanh khoản của thị trường) và dấu hiệu hợp nhất nhằm đánh giá một cách bao trùm mức độ đảm bảo anh ninh năng lượng (ANNL) của quốc gia;

Phat trien nang luong tai tao: Dinh huong trong tuong lai
Năng lượng tái tạo sẽ thay thế năng lượng hóa thạch tại Việt Nam trong tương lai.

(ii) Phương pháp đánh giá của các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU), 08 dấu hiệu đơn lẻ đã được sử dụng bao gồm: cường độ năng lượng; cường độ carbon; tỉ lệ độc lập về nhập khẩu NL với từng nguồn NL sơ cấp chính là than đá, khí thiên nhiên và dầu mỏ; sản lượng của các nguồn NL sơ cấp; tổng công suất nguồn điện và cuối cùng là nhu cầu NL cho giao thông;

(iii) Phương pháp đánh giá của Liên bang Nga, 07 dấu hiệu đơn lẻ quan trọng nhất để đánh giá các khía cạnh khác nhau về ANNL của mình, bao gồm: sụt giảm năng lực công suất sản xuất NL của hệ thống, tỉ lệ của các loại nhiên liệu chi phối trong cơ cấu tiêu thụ NL, mức độ không cấp đủ NL cho khách hàng so với tổng nhu cầu của các nguồn NL đó, khả năng tìm kiếm các nguồn NL bù đắp lại mức độ khai thác hàng năm phục vụ cho việc tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, mức độ vượt quá của các khả năng cung cấp của các loại nhiên liệu trên tổng số nhu cầu của các loại NL đó, mối quan hệ giữa tổng số nhiên liệu dự trữ tại thời điểm đầu của thời đoạn và mức tiêu thụ hàng năm, mức độ sử dụng hiệu quả năng lượng, đặc trưng cho mức độ tiêu thụ NL trên 1 đơn vị GDP.

Đối với Việt Nam, những đánh giá kết quả tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 18 cho thấy mục tiêu đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đối mặt với nhiều thách thức; các nguồn cung trong nước không đủ đáp ứng yêu cầu dẫn đến phải nhập khẩu năng lượng ngày càng lớn, cụ thể là:

Trong số 6 chỉ tiêu chủ yếu đánh giá đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia bao gồm: Tỷ số trữ lượng và sản xuất của than, dầu thô và khí được quy đổi; Sự phụ thuộc vào nhập khẩu than, dầu và khí đốt tự nhiên;  Tỷ trọng chi phí nhập khẩu trên tổng thu nhập quốc nội;  Đa dạng hoá nguồn nhập khẩu; Đa dạng hoá cơ cấu nhiên liệu cho phát điện;  Cường độ năng lượng sơ cấp thì có đến 3/6 chỉ tiêu đang biến động theo chiều hướng bất lợi, đó là: Tỷ số trữ lượng và sản xuất than, dầu và khí tự nhiên ngày càng giảm; Sự phụ thuộc vào nhập khẩu than, dầu và khí tự nhiên ngày càng tăng; và Tỷ trọng chi phí nhập khẩu than, dầu và khí tự nhiên trong tổng thu nhập quốc nội ngày càng tăng . Từ năm 2015, Việt Nam đã trở thành nước nhập khẩu năng lượng và xu hướng này ngày càng tăng lên nhanh trong dài hạn.

Về tổng quan, tài nguyên năng lượng sơ cấp về thủy điện về cơ bản đã khai thác hết. Sản lượng dầu và khí ở một số mỏ lớn sau thời gian dài khai thác đã suy giảm nhanh, việc phát triển mỏ mới trên Biển Đông gặp nhiều khó khăn.

Tuy trữ lượng than còn nhiều nhưng chưa khai thác triệt để do công nghệ còn lạc hậu và điều kiện khai thác ngày càng khó khăn làm tăng giá thành. Một số dự án nguồn điện chưa đưa vào vận hành do chậm tiến độ  và chậm khởi công so với quy hoạch , hoặc dừng triển khai .

Trong bối cảnh hiện nay, việc đẩy mạnh phát triển NLTT để đa dạng hoá nguồn cung năng lượng, tăng cường khả năng tự chủ, giảm nhập ròng về năng lượng là hướng đi tất yếu.

Đối với ngành điện, điều kiện cần thiết để thực hiện là phải có cơ cấu hợp lý để đảm bảo an toàn cho hệ thống điện quốc gia và với giá thành hợp lý, từng bước có khả năng cạnh tranh với các nguồn cung điện năng khác.

Đối với nhiên liệu sinh học, cần nâng cao nhận thức của người sử dụng, thuyết phục việc sử dụng để giữ gìn môi trường sinh thái đồng thời với nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm giá thành để tăng cường cạnh tranh với nhiên liệu xăng dầu truyền thống.

Bên cạnh mục tiêu đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, việc phát triển NLTT còn tạo ra ngành công nghiệp mới, tạo nhiều cơ hội công việc, thúc đẩy khả năng tăng tỷ lệ nội địa hoá. Đây cũng là nội dung quan trọng được nêu trong Nghị quyết 55, đó là: Phát triển công nghiệp chế tạo, dịch vụ phục vụ ngành năng lượng với mục tiêu nâng cao nội lực, tăng cường tỷ lệ nội địa hoá.

Trong thời gian tới, chúng ta cần khẩn trương xây dựng và thực thi các cơ chế, chính sách khuyến khích nâng cao tỉ lệ nội địa hoá trong ngành năng lượng; bảo đảm thực hiện tốt các yêu cầu, chỉ tiêu cụ thể về tỉ lệ nội địa hoá đối với các nhà máy điện nói riêng và dự án năng lượng nói chung. Qua việc tăng cường khả năng tự chủ sẽ đáp ứng tốt hơn yêu cầu về đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

Mối quan hệ giữa phát triển NLTT, giảm thiểu sử dụng than và dầu và bảo đảm bảo vệ môi trường về cơ bản là những mối quan hệ nhân quả và tương hỗ và thường được gắn chặt với mục tiêu về giảm phát thải khí nhà kính
 
Trên cơ sở đánh giá khả năng phát triển NLTT trong thời gian tới, Nghị quyết 55 đã đề ra mục tiêu về giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động năng lượng so với kịch bản phát triển bình thường ở mức 15% vào năm 2030, lên mức 20% vào năm 2045.

Đối với yêu cầu về bảo vệ môi trường, Nghị quyết 55 đề ra nhiệm vụ là cần tích cực tham gia có trách nhiệm những cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu; nghiên cứu, vận dụng tối đa các cơ hội, lợi thế quốc gia. Nghiên cứu, xây dựng chính sách thuế các-bon thích hợp đối với việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Có cơ chế, chính sách triển khai việc thu hồi khí CO¬2.

Hiện nay, Việt Nam đã có Luật Thuế bảo vệ môi trường số 57/2010/QH12 có hiệu lực thi hành từ 01/01/2012; tuy nhiên, chưa tác động đầy đủ đến các đối tượng sản sinh ra phát thải khí CO2 và còn có ưu đãi đáng kể cho đối tượng than (mức 10.000 -30.000 đ/tấn).

Theo báo cáo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Đức (GIZ), nhiều nước trên thế giới cũng đã áp dụng chính sách thuế các-bon với các mức thuế suất khác nhau (USD/tấn CO2) như Thuỵ Điển là 130, Nhật Bản 36, Anh 28, Pháp 16… Chính sách thuế các-bon cần chú trọng xác định về: (i) phạm vi áp dụng thuế và mức thuế suất; (ii) các trường hợp miễn và hoàn thuế; (iii) cơ chế phân bổ sử dụng nguồn thu được từ thuế các-bon này. Tuy nhiên, việc xây dựng chính sách thuế cần thận trọng với những bước đi thích hợp trong ngắn hạn với mức thuế suất thấp và dần hoàn thiện, nâng dần mức thuế hợp lý trong trung và dài hạn.

Ngoài ra, để đảm bảo tính khách quan, minh bạch khi so sánh, đánh giá về lợi ích về kinh tế - xã hội - môi trường giữa các loại hình năng lượng, Nghị quyết 55 còn yêu cầu xây dựng quy chế tài chính về môi trường, đảm bảo tính đủ các chi phí về môi trường, xã hội trong đầu tư và giá thành sản phẩm. Hoàn thiện cơ chế và thực hiện chính sách về tiêu chuẩn tỉ lệ năng lượng tái tạo trong cơ cấu đầu tư và cung cấp năng lượng.

Để đảm bảo cơ sở pháp lý đồng bộ, hiệu quả, tạo điều kiện cho phát triển NLTT cần sớm đánh giá, điều chỉnh và xây dựng mới những nội dung liên quan đến ngành năng lượng nói chung và NLTT nói riêng trong các Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam và Chiến lược biển Việt Nam… Đồng thời cần tổ chức tốt việc thực thi Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Pa-ri về biến đổi khí hậu đã được ban hành.

Như vậy, phát triển NLTT thực sự đã trở thành giải pháp cứu cánh để bảo vệ môi trường; mặt khác, với những cơ chế, chính sách về bảo vệ môi trường hiện nay cũng tạo điều kiện cho NLTT phát huy được vai trò, lợi thế của mình để phát triển nhanh và mạnh hơn những nguồn năng lượng truyền thống khác.
 
Các chủ trương, đường lối của Đảng cũng như chính sách, pháp luật của Nhà nước trong thời gian tới cần tiếp tục được quan tâm, rà soát và hoàn thiện bổ sung để thúc đẩy mạnh việc pháp triển NLTT, thực hiện đồng thời những mục tiêu kép về đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và bảo vệ môi trường.

Để những chủ trương và định hướng chính sách về phát triển năng lượng tái tạo gắn với an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường đi vào cuộc sống chúng ta cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, thể chế hoá thành những các văn bản quy phạm pháp luật; nâng cao ý thức chấp hành và thực thi nghiêm túc các quy định pháp luật về năng lượng nói chung và NLTT nói riêng.

Thực hiện tốt vai trò định hướng, xây dựng chính sách gắn với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, hỗ trợ thực hiện.

Ông Nguyễn Ngọc Trung - Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Công nghiệp (Ban Kinh tế Trung ương)

Chủ Nhật, 18/10/2020 06:00

Đọc nhiều nhất
Sự Kiện