Thủy lợi và Nghị quyết 120/NQ-CP

(Diễn đàn trí thức) - Buổi chất vấn và trả lời chất vấn đã diễn ra cách đây 19 năm 6 tháng nhưng nội dung vẫn còn là của ngày hôm nay, và còn phức tạp hơn...

Xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết của GS-TSKH Nguyễn Ngọc Trân:


THỦY LỢI VÀ NGHỊ QUYẾT 120/NQ-CP

                                                                       Nguyễn Ngọc Trân [1]

Không ai có thể phủ nhận thủy lợi đã đóng góp to lớn vào sản xuất lúa gạo, bảo đảm an ninh lương thực cho cả nước, mang lại nguồn ngoại tệ cần thiết để nhập nguyên nhiên vật liệu cho sản xuất thông qua xuất khẩu gạo, và vào sự phát triển của đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng không có gì là “cho không”. Thủy lợi đã góp phần nhất định vào sự chuyển đổi các hệ sinh thái ở đông bằng [2]. 

Thuy loi va Nghi quyet 120/NQ-CP
Hệ thống thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé

Báo cáo sơ bộ Định hướng phát triển thủy lợi và các vùng nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long của Viện Khoa học Thủy Lợi Việt Nam, Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam [3]  đã thúc giục tác giả viết bài này để khẳng định rằng Nghị quyết 120-CP của Chính phủ với hai chủ trương phát triển thuận thiên nước ngọt, nước lợ và nước mặn đêu là tài nguyên, không bó hẹp, dồn vào thế khó, mà ngược lại mở rộng đường cho công tác thủy lợi, nếu hiểu đúng nội hàm của thủy lợi.

Các tự điển Oxford, Larousse, Wikipedia tiếng Anh, tiếng Pháp, Bách khoa Britannica, Bách khoa Universalis định nghĩa thủy lợi gần giống nhau: 

Thủy lợi (hydraulics, hydraulique) là một ngành khoa học ứng dụng, một công nghệ liên quan đến các ứng dụng thực tế của chất lỏng trong chuyển động trong đường ống, sông, kênh và chứa trong các hồ đập. Cơ học chất lỏng cung cấp nền tảng lý thuyết cho thủy lợi. Thủy lợi được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, kết hợp với sức bền vật liệu, cơ học đất, địa chất, khí tượng thủy văn, …

Theo Wikipedia tiếng Việt: Thủy lợi là một thuật ngữ, tên gọi của việc nghiên cứu khoa học công nghệ, đánh giá, khai thác sử dụng, bảo vệ nguồn tài nguyên nước và môi trường, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai.

Luật Thủy lợi 2017, tại Điều 2, giải thích từ ngữ như sau:
“Thủy lợi là tổng hợp các giải pháp nhằm tích trữ, điều hòa, chuyển, phân phối, cấp, tưới, tiêu và thoát nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối; kết hợp cấp, tiêu, thoát nước cho sinh hoạt và các ngành kinh tế khác; góp phần phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh nguồn nước”.

Có thể thấy trong tất cả các định nghĩa, thủy được hiểu là chất lỏng, nói riêng là nước và không chỉ riêng nước ngọt.

Trong một đất nước có nền văn minh lúa nước, trong bối cảnh sau chiến tranh phải đảm bảo an ninh lương thực, trên một địa bàn mà nguồn nước ngọt (khi đó) là tài nguyên dồi dào thì đối tượng của thủy lợi chỉ là nước ngọt đi vào tiềm thức, thể hiện thành hành động “ngọt hóa” nơi nào có thể, bảo vệ công trình ngọt hóa khi còn có thể, là điều có thể hiểu được.

Biến đổi khí hậu, nước biển dâng, nguồn nước và hàm lượng trầm tích về đồng bằng ngày càng giảm và khan hiếm. Nếu đối tượng của thủy lợi là nước ngọt thì sẽ khó trăm bề. Có người còn cho là một thách đố. Nhưng nếu nước lợ và nước mặn cũng là đối tượng thì chân trời của công tác thủy lợi rộng mở và rất thú vị với những bài toán mới.

Tác giả muốn minh họa cách nhìn vấn đề như vậy thông qua chất vấn và trả lời chất vấn dưới đây giữa tác giả với nguyện Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Huy Ngọ, một đồng chí mà tác giả rất quý mến, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa X, sáng ngày 16/6/2001 [4] . Xin trích:


Nguyễn Ngọc Trân – Đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang
(…)
Trước nhất là về số liệu: Vừa rồi, đồng chí nói là chi cho Chương trình ngọt hóa Quản Lộ - Phụng Hiệp là 160 tỉ, nhưng theo số liệu đồng chí gửi trả lời cho tôi, con số là 450 tỉ. Xin đề nghị làm rõ.

Thứ hai, Chương trình ngọt hóa Quản Lộ - Phụng Hiệp cho tới thời điểm hiện nay, như vậy đã phát huy tác dụng trên diện tích ngọt hóa khoảng 50 - 60%. Đây phải nói một điều khẳng định tính đúng đắn một phần của Chương trình.

Nhưng điều cần nói trong Chương trình ngọt hóa bán đảo Cà Mau và Chương trình Quản Lộ - Phụng Hiệp chính là ở chỗ đồng chí Bộ trưởng đã nói: "Chúng tôi chưa dự kiến hết nhu cầu cho phát triển thủy sản". Ý kiến này chỉ đúng một phần. Khi lập chương trình Quản Lộ - Phụng Hiệp, nhiều cán bộ khoa học kỹ thuật có hỏi liệu chúng ta có đủ nguồn nước ngọt để đưa từ Phụng Hiệp đi xuống để ngọt hóa tất cả vùng? Các đồng chí có trách nhiệm quy hoạch khẳng định là đủ. Ai đúng, ai sai?

Thứ hai, không phải đơn giản là bà con nông dân thấy tôm có lợi mà đi ra phá công trình. Thực sự ra, nguyên nhân là chuyện chúng ta đang áp đặt hệ sinh thái ngọt lên các hệ sinh thái lợ và mặn. Đồng chí nói "Chúng tôi nghiêng về cây lúa". Thực ra, nghiêng chưa vượt ngưỡng và nghiêng vượt ngưỡng hậu quả khác nhau nhiều. Nhiều cán bộ khoa học kỹ thuật đã nêu lên ý kiến cần dè dặt, làm từng bước vừa để xem khả năng ngọt hóa đến đâu vừa để đánh giá chuyển hóa dần môi trường.

Chúng ta nên rút kinh nhiệm về vấn đề quy hoạch. Riêng tôi nghĩ, có mấy kinh nghiệm cần rút ra.

Thứ nhất, khi muốn quy hoạch thì chúng ta luôn luôn cố gắng biện minh bằng được điều đó đúng, cho dù điều đó không đúng. Thứ hai, chúng ta coi nhẹ quy luật khách quan, hệ sinh thái khách quan. Thứ ba, chúng ta quy hoạch theo ngành mình chứ không theo liên ngành trong khi một hệ sinh thái có liên quan đến nhiều Bộ chứ không phải một Bộ.

Đồng chí có nói trong công văn trả lời là đồng chí "đang theo yêu cầu của tỉnh", đồng chí "cùng với Ủy ban nhân dân tỉnh làm quy hoạch thủy sản". Nhưng còn Bộ Thủy sản, các đồng chí có phối hợp không?

Tôi đang có một dự thảo quy hoạch về thủy sản. Bộ trưởng Bộ Thủy sản Tạ Quang Ngọc gửi đề nghị chúng tôi phát biểu ý kiến. Đọc tài liệu này, tôi đã góp ý rõ ràng thiếu sự phối hợp liên ngành trong quy hoạch.

Điều cuối cùng, khi quy hoạch, thường cái tối đa cho ngành được tính đến, cái tối ưu cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội không được coi trọng đủ. Tôi cũng nhận thấy điều này trong dự thảo quy hoạch chuyển đổi cơ cấu của ngành thủy sản, không tính đến cái tối ưu kinh tế - xã hội - môi trường.

(…) Kinh nghiệm cần rút ra là cần trân trọng ý kiến của các nhà khoa học và cần có cái nhìn liên ngành trong công tác quy hoạch để phát triển nông thôn, để phát triển kinh tế xã hội nói chung.

Tôi có một số ý kiến như vậy đề xuất với đồng chí Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vì tôi biết nhiều đồng chí rất tâm huyết với vấn đề này. Mong được đồng chí quan tâm.”

Lê Huy Ngọ - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

(…) Đại biểu Nguyễn Ngọc Trân ở An Giang nói về chỗ đầu tư 160 tỉ và 450 tỉ. Tôi xin nói lại. Chỗ đầu tư 450 tỉ tôi báo cáo trong công văn trả lời là hệ thống công trình, bao gồm cả công trình hệ thống thủy lợi và hệ thống kênh mương. 11/12 công trình gọi là công trình cống, còn tất cả đó là phải đi theo một hệ thống nữa là 450 tỉ. Như thế anh nói tổng số và tôi nói công trình. Nhưng cũng là tôi nói cả thôi, số 450 tỉ cũng là số của tôi.

Thứ hai, tôi hoàn toàn chia sẽ với đồng chí đại biểu An Giang. Bây giờ, nhìn nhận thủy lợi trong nhận thức mới liên ngành, đa mục tiêu trở thành một vấn đề rất lớn mà ngành thủy lợi sẽ phải chuyển. Tức là, từ anh quy hoạch cho đến anh thiết kế và cho đến người thi công thực sự là một cuộc cách mạng trong nhận thức.

Hội nghị quốc tế vừa rồi khuyến cáo tất cả các nước: Thế kỷ 21 là thế kỷ nước và dùng nước là đa mục tiêu chứ không phải chỉ có lúa nước. Thế còn xưa nay, chúng tôi đã nói đến thủy lợi là nói đến lúa nước ngay: Tăng bao nhiêu diện tích, tăng bao nhiêu vụ, bình quân một hécta lúa là 18 triệu hay 20 triệu, thế là duyệt. Chuyện đó có thật trong cuộc sống, giờ đây phải chuyển cho được cái đó. Tôi đồng ý và theo Chỉ thị của Thủ tướng, sắp tới đây tổng kết Chỉ thị 99 ở đồng bằng sông Cửu Long sau cuộc họp Quốc hội này sẽ bàn trực tiếp vào vấn đề môi trường trở thành vấn đề lớn chứ không chỉ có lúa. Tôi xin tiếp thu ý đó.

…Vấn đề thứ ba, là vấn đề thủy lợi. Đồng chí Nguyễn Ngọc Trân, đại biểu An Giang có hỏi về vấn đề bán đảo Cà Mau hiệu quả đầu tư như thế nào mà bây giờ, sắp tới chúng ta làm to nữa thì đầu tư lớn thì làm như thế nào, thì tôi xin báo cáo với Quốc hội chương trình 99 sắp tới của chúng ta sau cuộc họp Quốc hội, Chính phủ đã tiến hành tổng kết đánh giá toàn bộ. Riêng Chương trình Quản Lộ - Phụng Hiệp và bán đảo Cà Mau, đánh giá của chúng tôi là đi đúng theo mục tiêu và tương đối tốt. Đầu tư những năm vừa rồi cho chương trình này khoảng 160 tỉ, xây dựng 12 cái cống ngăn nước măn và 12 cái cống nhỏ để điều tiết nó, làm lợi cái gì, khoảng 130 hecta diện tích lúa tăng vụ và khoảng 270 hecta, tưới lúa, tưới nước tăng vụ và ngọt hóa.

Thế nhưng cũng không lường hết được. Thực ra, phải thấy cái đó là thủy sản phát triển và có nhu cầu thị trường lớn đến như vậy thì phải qua tất cả các qui định đó nói riêng về vấn đề lúa và ổn định lương thực cho nên làm cống, làm kênh, làm mương tất cả là phục vụ cho lúa nước, đến khi có nhu cầu về tôm thì trở tay không kịp, bà con trở ra đập, phá đập lấy nước mặn làm tôm, thì bảo là chúng tôi khuyết điểm thì chúng tôi khuyết điểm vì không nhìn hết được tầm nhìn nhưng mà làm như thế thì gay go lắm các đồng chí ạ. Các đồng chí địa phương phải có giải pháp như Trà Vinh và chúng ta bàn với nhau, chúng ta tổ chức lại, làm thêm cống cho đồng bào, phải tổ chức lại bờ bao lúa, tôm phải rõ ràng. Cái đó là thiếu sót về nhận thức chưa đầy đủ về quy hoạch đối với bán đảo Cà Mau.

Vì thế theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, chúng tôi đã, đang làm quy hoạch lại bán đảo Cà Mau và giao cho Viện Khoa học thủy lợi làm và đã trình dự án đầu tư đúng như đồng chí Nguyễn Ngọc Trân phát hiện. Đây mới là dự án thôi, chúng tôi chưa duyệt; khi duyệt, chúng tôi phải mời các cơ quan thẩm định thêm, nhưng tôi đãm bảo cái đó phải mở rộng tầm nhìn tức là phải kết hợp giữa nông nghiệp và ngư nghiệp, giữa lúa và tôm và vấn đề môi trường thì chúng ta mới giải quyết tốt được. Chúng tôi cố gắng, sau hội nghị này sẽ có tư duy mới hơn xung quanh vấn đề này.”

Buổi chất vấn và trả lời chất vấn đã diễn ra cách đây 19 năm 6 tháng nhưng nội dung vẫn còn là của ngày hôm nay, và còn phức tạp hơn vì biến đổi khí hâu, nước biển dâng và nguồn nước từ thượng nguồn về là những yếu tố bất định. Chúc ngành thủy lợi thành công trong sự chuyển đổi cần thiết mà Bộ trưởng Lê Huy Ngọ đã hứa trước Quốc hội.

  • Nguyễn Ngọc Trân    

CHÚ THÍCH:

 [1]: Giáo sư Tiến sĩ khoa học, Đại biểu Quốc hội khóa IX, X, XI. Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại QH.

[2]: Nguyễn Ngọc Trân, Đồng bằng sông Cửu Long, 44 năm chuyển đổi kinh tế, xã hội và môi trường, 11/06/2019.

http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/dbscl-44-nam-chuyen-doi-kinh-te-xa-hoi-va-moi-truong-3381677/

[3]: Tài liệu phục vụ Hội nghị báo cáo và tham vấn về Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức tại Thành phố Cần Thơ ngày 26/11/2020.

[4]: Trích biên bản, Trung tâm Thông tin thuộc Văn phòng Quốc hội.

Thứ Ba, 15/12/2020 07:04

Van Kien Dai Hoi
Đọc nhiều nhất
Sự Kiện