GLTT: Ứng dụng năng lượng nguyên tử phát triển kinh tế-xã hội

(Giao lưu trực tuyến) - Giao lưu trực tuyến với chủ đề "Ứng dụng năng lượng nguyên tử phục vụ phát triển kinh tế - xã hội" sẽ diễn ra vào lúc 10h00- 11h45, Thứ Năm, ngày 15/12/2016.

Sáng ngày 15/12, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển truyền thông Khoa học và Công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) phối hợp với báo Đất Việt tổ chức giao lưu trực tuyến với chủ đề: "Ứng dụng năng lượng nguyên tử phục vụ phát triển kinh tế - xã hội".

Tham gia giao lưu trực tuyến có: TS. Hoàng Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Năng lượng nguyển tử, Bộ KH&CN; GS.TSKH. Trần Duy Quý, Viện Nghiên cứu hợp tác Khoa học kỹ thuật Châu Á Thái Bình Dương; PGS. TS. Bác sĩ. Lê Ngọc Hà, Chủ nhiệm khoa Y học hạt nhân, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

GLTT: Ung dung nang luong nguyen tu phat trien kinh te-xa hoi
TS. Hoàng Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Năng lượng nguyển tử, Bộ KH&CN.

Ứng dụng năng lượng nguyên tử (NLNT) có vai trò quan trọng và đóng góp lớn cho phát triển kinh tế - xã hội trên cả hai lĩnh vực ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ (ứng dụng phi năng lượng) và điện hạt nhân (ứng dụng năng lượng).

Việt Nam đã có những cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử: Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 01/2006/QĐ-TTg ngày 03/01/2006 với mục tiêu chung là từng bước xây dựng và phát triển ngành công nghệ, công nghệ hạt nhân có đóng góp hiệu quả trực tiếp cho phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường tiềm lực KH&CN của đất nước.

GLTT: Ung dung nang luong nguyen tu phat trien kinh te-xa hoi
GS.TSKH. Trần Duy Quý, Viện Nghiên cứu hợp tác Khoa học kỹ thuật Châu Á Thái Bình Dương.

Để cụ thể hóa các nhiệm của Chiến lược, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển, ứng dụng NLNT vì mục đích hòa bình đến năm 2020 (Quyết định số 957/QĐ-TT ngày 24/06/2010). Triển khai thực hiện Quy hoạch tổng thể, các Bộ, ngành đã xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các Quy hoạch chi tiết phát triển ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ trong các lĩnh vực Y tế, Công nghiệp, Nông nghiệp, Tài nguyên và Môi trường đến năm 2020.

Thực hiện vai trò là cơ quan quản lý và hướng dẫn triển khai thực hiện Chiến lược, Bộ KH&CN đã phối hợp với các Bộ, ngành và các cơ quan liên quan để triển khai các nhiệm vụ về phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử trong các ngành kinh tế - xã hội... thu về những kết quả nổi bật về phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong các lĩnh vực: y tế, nông nghiệp, công nghiệp, tài nguyên và môi trường trong giai đoạn 2011-2016. 

GLTT: Ung dung nang luong nguyen tu phat trien kinh te-xa hoi
PGS. TS. Bác sĩ. Lê Ngọc Hà, Chủ nhiệm khoa Y học hạt nhân, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Để chia sẻ với bạn đọc liên quan đến ứng dụng năng lượng nguyên tử phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, từ 10h-11h45 phút, ngày 15/12, các khách mời sẽ có cuộc giao lưu trực tuyến với bạn đọc báo Đất Việt. Ngay từ bây giờ bạn đọc vào trang baodatviet.vn để có thể trực tiếp đặt câu hỏi với các khách mời:

- TS. Hoàng Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Năng lượng nguyển tử, Bộ KH&CN

- GS.TSKH. Trần Duy Quý, Viện Nghiên cứu hợp tác Khoa học kỹ thuật Châu Á Thái Bình Dương

- PGS. TS. Bác sĩ. Lê Ngọc Hà, Chủ nhiệm khoa Y học hạt nhân, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Có một số độc giả vẫn chưa hiểu rõ về Y học hạt nhân, ông có thể chia sẻ rõ hơn với độc giả về cụm từ Y học hạt nhân?( Trần Thị Trang, 35 tuổi, Hà Nội )

PGS.TS. Bác sĩ. Lê Ngọc Hà, Chủ nhiệm Khoa Y học hạt nhân, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 : Y học hạt nhân là một trong những lĩnh vực chủ yếu trong ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong y tế. Có thể hiểu một cách khái quát và ngắn gọn Y học hạt nhân là một chuyên ngành y học liên quan đến sử dụng các chất phóng xạ, các dược chất phóng xạ nhằm mục đích chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân.

Gắn bó nửa thế kỷ làm về di truyền chọn tạo giống lúa, là “cha đẻ” của những giống siêu lúa cho nông dân Việt, sức hút nào khiến ông “say sưa với cây lúa” đến vậy?( Vũ Hữu Hưng, 35 tuổi, Thái Bình )

GS.TSKH. Trần Duy Quý, Viện Nghiên cứu hợp tác Khoa học kỹ thuật Châu Á Thái Bình Dương:

Đất nước ta là một đất nước nông nghiệp với hơn 90 triệu dân và diện tích đất nông nghiệp trồng được lúa là 3,8 triệu ha. Nếu tích cực trồng lúa 1 năm 2-3 vụ thì chúng ta có diện tích khoảng 7,8 triệu ha, sản lượng hiện nay là 45,5 triệu tấn, năng suất 5,8 tấn/ha. So với năm 1990, chúng ta chỉ có 16,5 triệu tấn và năng suất 3,4 tấn/ha.

Do vậy để đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước và sự phát triển cho 90 triệu dân thì bản thân những người chọn tạo giống lúa như chúng tôi rất say mê. Nếu như không tạo được giống lúa chất lượng cao, hay siêu lúa thì khó có thể đảm bảo an ninh lương thực của đất nước và trữ lại cho chăn nuôi và các ngành công nghiệp khác.

Như vậy, trong nửa thế kỷ tìm tòi và nghiên cứu về cây lúa, tôi và đồng nghiệp luôn nỗ lực để tạo ra giống lúa có chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh và bất thuận với môi trường mà hiện nay thường gọi là biến đổi khí hậu.

Thời gian qua, đặc biệt là trong một thập kỷ gần đây, Y học hạt nhân ở Việt Nam đã có bước phát triển đáng ghi nhận trong các ứng dụng lâm sàng, đào tạo và nghiên cứu khoa học….? Xin ông cho biết cụ thể về vấn đề này?( Phạm Minh Đức, 30 tuổi, Hồ Chí Minh )

PGS.TS. Bác sĩ. Lê Ngọc Hà : Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội và những tiến bộ khoa học công nghệ, trong khoảng 10 năm gần đây, y học hạt nhân ở Việt Nam đã có những bước phát triển đáng ghi nhận, đặc biệt là trong ứng dụng chẩn đoán và điều trị bệnh nhân. Hầu hết các ứng dụng của Y học hạt nhân phổ biến trên thế giới như trong các lĩnh vực tim mạch, ung thư, thận- tiết niệu, nội tiết, xương- khớp, tiêu hóa, tâm-thần kinh, nhi khoa... đã và đang được thực hiện ở nước ta trong những năm gần đây. Đội ngũ các giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ, kĩ sư, hóa-dược phóng xạ, kĩ thuật viên, điều dưỡng chuyên ngành y học hạt nhân cũng đã dần tăng lên về số lượng và trình độ chuyên môn nhờ được đào tạo trong và ngoài nước. Nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y học hạt nhân bước đầu có sự khởi sắc. Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về khoa học và thực tiễn đã được thực hiện, được công bố trong và ngoài nước. Đặc biệt là các sản phẩm khoa học này đã được ứng dụng trong thực tiễn.

Xin ông cho biết sự khác biệt giữa phương pháp lai tạo giống và phương pháp chọn tạo giống bằng công nghệ bức xạ hạt nhân?( Nguyễn An, 40 tuổi, Ninh Bình )

GS.TSKH. Trần Duy Quý: Phương pháp lai tạo giống và phương pháp chọn tạo giống bằng công nghệ bức xạ hạt nhân hay còn gọi là chọn giống đột biến có những điểm giống nhau và khác nhau căn bản.

Thứ nhất, giống nhau là đều tạo ra nguồn vật liệu phong phú cho công tác chọn lọc nhân tạo để tạo thành giống mới có năng suất chất lượng cao đáp ứng đúng yêu cầu của sản xuất.

Thứ hai, những khác biệt căn bản là:

Lai tạo giống phải gồm ít nhất hai giống bố mẹ có những đặc tính nông sinh học quý đáp ứng được mục tiêu của giống cần chọn, tiến hành lai hữu tính. Tức là, lấy phấn của dòng bố thụ cho hoa cái của dòng mẹ để tạo nên hạt lai. Từ hạt lai gieo lên và tiếp tục chọn lọc qua nhiều thế hệ tự thụ đến khi nào thu được những cá thể chứa được những đặc điểm mong muốn từ bố hoặc từ mẹ thì nhân giống đó lên để thành giống mới. Tất nhiên cần trải qua các hệ thống khảo nghiệm quốc gia, hội đồng KH-CN quốc gia, thử nghiệm sản xuất ở diện nhỏ và diện lớn trên các vùng sinh thái khác nhau. Bản chất của lai hữu tính tạo ra nguồn vật liệu khởi đầu không làm thay đổi bản chất của gene bố và mẹ mà chỉ sắp xếp lại vị trí các gene của bố mẹ trong con cái. Và vì thế, nó tạo nên các hiệu quả tác động của gene khác nhau dẫn đến hình thành các đặc tính mới ở con cái cũng như di truyền được những đặc tính quý của bố mẹ.

Còn phương pháp gây đột biến, trên một giống lúa cụ thể, thì nó cũng tạo ra nguồn vật liệu ban đầu rất phong phú nhưng bản chất của gene bị thay đổi hoặc mất đi một số gene hoặc tăng thêm các đoạn ADN để hình thành gene mới hoặc thay đổi những bazonito trong cấu trúc phân tử ADN. Thí dụ: Adenin thay bằng Tmin hoặc Guanin thay bằng Xitozin. Vì vậy, dẫn đến thay đổi các đặc điểm nông sinh học của cây lúa. Thông qua chọn lọc theo các dòng đột biến, theo phả hệ của chúng, chúng ta thu được những giống mới có năng suất chất lượng và chống chịu sâu bệnh theo như mục tiêu đã đặt ra.

Mục tiêu của ông trong nghiên cứu chọn tạo giống lúa đột biến bằng công nghệ hạt nhân là gì?( Bùi Thế Nghĩa, 42 tuổi, An Giang )

GS.TSKH. Trần Duy Quý:

Mục tiêu chọn giống lúa đột biến là tạo ra được những nguồn biến dị di truyền phong phú về năng suất, chất lượng, thời gian sinh trưởng, cấu trúc kiểu cây, đặc tính chống chịu sâu bệnh và các điều kiện bất thuận môi trường. Tùy từng mục đích chọn giống mà chúng ta lựa chọn ở trong vật liệu khởi đầu ấy ra những mục tiêu lựa chọn của mình.

Thông thường, đột biến tạo ra khi chiếu xạ hoặc xử lý bằng hóa chất gây đột biến, tạo ra rất nhiều các biến dị di truyền về mặt hình thái, cấu trúc phân tử ADN, cấu trúc và số lượng nhiễm sắc thể. Vì thế dẫn đến thay đổi rất nhiều tính trạng nông sinh học trên cây lúa. Đa phần những đột biến lớn thường đụng chạm đến nhiều dấu hiệu nên làm suy giảm hoặc phát triển không cân đối, lệch lạc nên ít giá trị trong công tác chọn tạo giống mà chỉ có giá trị trong lý thuyết di truyền và chức năng của gene.

Vì thế, người ta thường chú ý đến các đột biến nhỏ như micro-mutantion, tức là những đột biến chỉ động chạm đến một vài gene thậm chí trong cấu trúc một gene. Những đột biến này chỉ gây nên những biến đổi ở một vài tính trạng mong muốn có ích cho chọn tạo giống lúa thí dụ như năng suất, chất lượng, hàm lượng amilozo cao hoặc thấp hoặc cơm thơm hay không thơm hoặc chống chịu được một, một vài sâu bệnh, hoặc chịu hạn, chịu mặn, chịu úng...

Xu thế hiện nay, người ta thường kết hợp giữa lai hữu tính và đột biến thử nghiệm vì hai phương pháp này có thể bổ sung hỗ trợ cho nhau. Thí dụ: Chúng tôi tạo ra được giống lúa có năng suất rất cao nhưng kém chống chịu sâu bệnh. Bằng phương pháp lai hữu tính có thể truyền được những tính trạng mong muốn từ bố mẹ vào cho con cái.  Hay khi lai hữu tính chọn được những dòng lúa có năng suất chất lượng cao nhưng không thơm hoàn toàn có thế gây đột biến cho dóng lúa để thơm hơn.

Xin ông cho biết, thực trạng phát triển y học hạt nhân ở nước ta hiện nay?( Phạm Quang Hiếu, 39 tuổi, Hà Nội )

PGS.TS. Bác sĩ. Lê Ngọc Hà: Như đã trình bày ở trên, có thể nói y học hạt nhân nước ta đã đạt những thành tựu đáng kể trong những năm gần đây. Trước đây, trong thời gian khá dài, chúng ta chỉ áp dụng được các ứng dụng lâm sàng với kỹ thuật y học hạt nhân thông thường và kinh điển như đo độ tập trung I-131 tại tuyến giáp, xạ hình xương, xạ hình tuyến giáp, xạ hình đánh giá hình thể và chức năng thận, sử dụng I-131 trong điều trị bệnh Basedow và ung thư tuyến giáp  biệt hóa sau phẫu thuật, điều trị giảm đau di căn xương bằng P-32...

Hiện nay, chúng ta đã không ngừng mở rộng và phát triển các ứng dụng khác trong nhiều chuyên ngành, bắt kịp với trình độ các nước trong khu vực và thậm chí một số nước phát triển trên thế giới như xạ hình tươi máu, đánh giá khả năng sống còn cơ tim sau nhồi máu cơ tim, xạ hình hạch gác trong ung thư vú, ung thư hắc tố, xạ hình Tc99m gắn hồng cầu chẩn đoán u máu trong gan...

Từ năm 2009, nhờ được trang bị các hệ thống cyclotron và hệ thống tổng hợp dược chất phóng xạ, PET và PET/CT đã được ứng dụng ở Việt Nam  trong các lĩnh vực ung thư, tim mạch và tâm - thần kinh tại bệnh viện lớn tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM. Các kết quả nghiên cứu với PET/CT đã khẳng định, PET/CT đã giúp chẩn đoán với độ nhậy và độ chính xác cao các ung thư nguyên phát và chẩn đoán pha biệt u lành và u ác tính, di căn, tái phát, đánh giá kết quả điều trị , theo dõi sau điều trị. PET/CT có vai trò quan trọng trong việc xác định đúng giai đoạn ung thư để chọn phương pháp điều trị thích hợp nhờ có vai trò lớn trong phát hiện sớm di căn. PET/CT làm thay đổi chiến thuật diều trị ở 30 đến 40% số bệnh nhân ung thư. PET/CT giúp dự báo sớm kết quả điều trị và đánh giá đáp ứng điều trị bệnh nhân. Gần đây, một số nghiên cứu về điều trị miễn dịch phóng xạ gắn I-131 với kháng thể đơn dòng trên thực nghiệm đã được tiến hành và hi vọng sẽ được tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng trong đơn dòng trong thời gian tới. Đặc biệt, từ năm 2014, kĩ thuật sử dụng hạt vi cầu ytrium-90 trong điều trị ung thư gan đã được ứng dụng đầu tiên tại Bệnh viện TW Quân đội 108, Bệnh viện Bạch Mai với kết quả bước đầu đáng khích lệ.

Tuy nhiên, việc ứng dụng và phát triển ngành y học hạt nhân ở nước ta còn gặp nhiều bất cập như việc triển khai các ứng dụng y học hạt nhân mới chỉ tập trung ở một số thành phố lớn, chưa có tính phổ cập tới các bệnh viện tuyến tỉnh. Kiến thức về y học hạt nhân của cộng đồng, bệnh nhân và các chuyên ngành có liên quan cũng còn hạn chế. Vấn đề đào tạo chuyên ngành y học hạt nhân như bác sĩ chuyên khoa, kĩ thuật viên, đặc biệt là đào tạo nhân viên hóa dược phóng xạ, y vật lý... cũng như cơ chế chính sách còn nhiều hạn chế. Việc triển khai thực hiện các chiến lược, kế hoạch và quy hoạch phát triển y học hạt nhân trong phạm vi cả nước, ở các ngành, các địa phương chưa đầy đủ, thiếu sự tính toán đồng bộ và nhất quán. Sự phối hợp trong chuyên ngành và liên ngành cũng đòi hỏi được xây dựng và phát triển hơn nữa... Đầu tư cho nghiên cứu chuyên ngành còn ít về số lượng, chưa thực sự đi vào chiều sâu và đáp ứng những vấn đề thực sự cấp thiết. 

Người dân sẽ được hưởng lợi gì từ việc lai tạo các giống lúa thuần bằng công nghệ bức xạ, thưa ông?( Lê Phúc Thọ, 45 tuổi, Kiên Giang )

GS.TSKH. Trần Duy Quý: Nếu như không có khoa học lai tạo giống lúa và chọn lọc đột biến thì người dân vẫn có thể lựa chọn được những giống lúa cổ truyền từ đời ông cha để lại nhưng năng suất thấp, chống chịu sâu bệnh kém và ít kích ứng.

Nhưng nhờ có các phương pháp mới là lai hữu tính và chọn giống đột biến, trong gần 1 thế kỷ qua, năng suất của ta và thế giới tăng vọt. Từ dưới 1 tấn/ha lên đến 10 tấn/ha, thậm chí theo thông báo mới nhất của ông Viên Long Bình - cha đẻ lúa lai của Trung Quốc vừa công bố cách đây 1 tháng, năng suất lúa đã đạt 22 tấn/ha/vụ hoặc thông báo của GS.TS. Trần Huy Quý và cộng sự ở Viện Nghiên cứu hợp tác Khoa học kỹ thuật Châu Á Thái Bình Dương (LHH Việt Nam) công bố trong Hội nghị "Ứng dụng năng lượng nguyên tử vào phát triển các ngành kinh tế quốc dân" của Bộ KH-CN tổ chức vào tháng 10/2016 tạo ra được giống lúa thuần NPT3, NPT4, NPT5 có năng suất đạt 9-10 tấn/ha, chống chịu sâu bệnh, phẩm chất gạo thơm ngon so với các giống lúa thuần thông thường đã vượt 3-4 tấn/ha, tương đương với giống lúa lai thế hệ thứ hai.

Và vì vậy, có thể nói, người dân nhờ các phương pháp chọn tạo giống mới được hưởng lợi rất nhiều từ phương pháp chọn tạo giống lúa.

 

Triển vọng phát triển y học hạt nhân ở Việt Nam ra sao, thưa ông?( Nguyễn Minh Hương, 29 tuổi, Cần Thơ )

PGS.TS. Bác sĩ. Lê Ngọc Hà:

Nếu chúng ta thực hiện đúng theo Chiến lược và kế hoạch ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020 và Quy hoạch phát triển ngành y học hạt nhân thì ngành y học hạt nhân thực sự sẽ có triển vọng tốt đẹp, có thể hội nhập hoàn toàn với các nước trong khu vực và tiếp cận được một số thành tựu y học hạt nhân tiên tiến của một số nước phát triển.

Tuy nhiên, thời gian từ nay đến năm 2020 không còn nhiều, cần nhiều hơn nữa sự vào cuộc quyết liệt của Chính phủ, các bộ, ngành có liên quan trong việc tổ chức, chỉ đạo và nỗ lực vượt bậc của chuyên ngành y học hạt nhân triển khai toàn diện và đồng bộ các dự án về đào tạo, đầu tư hạ tầng cơ sở, trang thiết bị, dược chất phóng xạ...

Năng suất, khả năng chống chịu sâu bệnh cũng như chất lượng của các giống lúa được chọn tạo bằng phương pháp đột biến so với những giống gốc, giống lúa lai ra sao, thưa ông?
( Hoàng Thái Sơn, 39 tuổi, Nam Định )

GS.TSKH. Trần Duy Quý:  Về năng suất và chất lượng cũng như tính chống chịu sâu bệnh của các giống lúa tạo ra bằng các phương pháp đột biến thực nghiệm so với những giống gốc tất nhiên phải vượt được hơn hoặc ít nhất bằng thì mới được lựa chọn.

Tuy nhiên, có những giống tạo ra vượt trội về những đặc tính nêu trên như vừa có năng suất cao, chất lượng tốt lại có mùi thơm như NPT4 và NPT5 mà chúng tôi vừa tạo ra. So với giống lúa lai thì nhìn chung, các giống lúa đột biến tương đương với các giống lúa lai có một số đặc tính kém hơn nhưng hiện nay giống siêu lúa hoàn toàn có thể thay thế được một phần các giống lúa lai nhập nội từ Trung Quốc vì chúng có năng suất bằng hoặc cao hơn lúa lai và có một số đặc tính vượt trội khác.

GLTT: Ung dung nang luong nguyen tu phat trien kinh te-xa hoi
GS.TSKH. Trần Duy Quý, Viện Nghiên cứu hợp tác Khoa học kỹ thuật Châu Á Thái Bình Dương

Được biết, hiện nay ở nhiều quốc gia trên thế giới đã ứng dụng năng lượng nguyên tử phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Xin ông chia sẻ thông tin về vấn đề này?( Minh Nguyễn, 38 tuổi, Hà Nội )

TS. Hoàng Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Năng lượng nguyên tử, Bộ KH&CN: Ngày nay trên thế giới, năng lượng nguyên tử được ứng dụng rộng rãi ở nhiều lĩnh vực kinh tế-kỹ thuật, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

Ở nhiều quốc gia, ứng dụng năng lượng nguyên tử có vai trò quan trọng và đóng góp lớn cho phát triển kinh tế - xã hội trên cả hai lĩnh vực: ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ (ứng dụng phi năng lượng) và điện hạt nhân (ứng dụng năng lượng). Chẳng hạn ở Hoa Kỳ, đóng góp của ứng dụng NLNT vào giá trị kinh tế xã hội đạt mức 2% GDP, đạt giá trị 158 tỷ USD vào năm 1997, trong đó đóng góp của các ứng dụng phi năng lượng chiếm 75% và của điện hạt nhân chỉ chiếm 25%.

Bức xạ và đồng vị phóng xạ được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như: y tế, nông nghiệp, công nghiệp, tài nguyên và môi trường, nghiên cứu khoa học.

- Trong lĩnh vực y tế, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ được sử dụng chủ yếu ở bốn lĩnh vực là y học hạt nhân, xạ trị, điện quang, sản xuất dược chất phóng xạ.

- Trong nông nghiệp, bức xạ và đồng vị phóng xạ được ứng dụng trong chọn tạo giống cây trồng; bảo vệ thực vật; nông hóa và thổ nhưỡng; bảo quản và chế biến; nuôi trồng thủy hải sản; chăn nuôi và thú y.

- Trong công nghiệp, kỹ thuật hạt nhân được ứng dụng chủ yếu trong 04 lĩnh vực sau đây: Kiểm tra không phá hủy (NDT), Hệ điều khiển hạt nhân (NCS), Kỹ thuật đánh dấu đồng vị phóng xạ (Tracer), Chẩn đoán hình ảnh trong các hệ thống công nghiệp.

- Trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, bức xạ và đồng vị phóng xạ được ứng dụng trong thăm dò, đánh giá trữ lượng tài nguyên khoáng sản; nghiên cứu đánh giá tác động môi trường; ứng phó biến đổi khí hậu; quản lý tài nguyên nước; xử lý môi trường trong các cơ sở công nghiệp…

GLTT: Ung dung nang luong nguyen tu phat trien kinh te-xa hoi
TS. Hoàng Anh Tuấn (Cục trưởng Cục Năng lượng nguyên tử, Bộ KH&CN) đang trả lời câu hỏi giao lưu của độc giả.

Xin ông cho biết một số kết quả nổi bật từ phương pháp chọn tạo giống đột biến?( Lê Hoàn, 44 tuổi, Vĩnh Phúc )

GS.TSKH. Trần Duy Quý:

Phương pháp chọn tạo giống lúa đột biến của Việt Nam bắt đầu từ khoảng năm 1970 đến nay. Chúng ta đã chọn tạo ra rất nhiều giống cây trồng đột biến sau gần một nửa thế kỷ và số lượng giống hiện nay là 58 giống, đứng thứ 4 châu Á, sau Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ. Trong số đó, có 30 giống lúa đột biến, tiêu biểu nhất là các giống DT10, A20, DT11, DT22,  Khang dân đột biến... của các tác giả: GS.TS. Trần Duy Quý, Kỹ sư Bùi Huy Thủy, TS. Đỗ Hữu Ất, KS. Nguyễn Văn Bích, Kỹ sư Nguyễn Quang Xu, TS. Lê Văn Nhạ, GS. TS. Hoàng Tuyết Minh và cộng sự thuộc Viện di truyền nông nghiệp. Các giống VN9820, VN9818 của TS. Đỗ Khắc Thịnh, Viện KH-KT Việt Nam, Tài nguyên đột biến 100 của Viện Lúa ĐBSCL của TS. Phạm Văn Ro, P6 đột biến của TS. Hà Văn Nhân, Viện Cây lương thực và cây thực phẩm.

Đặc biệt, các giống siêu lúa: NPT3, NPT4, NPT5 được tạo ra bằng phương pháp đột biến do GS. Trần Duy Quý, TS. Trần Duy Dương, ThS. Trần Duy Vương và cộng sự thuộc Viện IAP và Viện Di truyền nông nghiệp tạo ra trong thời gian từ 2009 - 2016 đang được khảo nghiệm sản xuất và phát triển ở một số vùng trọng điểm lúa ở ĐB Sông Hồng có khả năng thay thế một số giống lúa lai nhập nội từ nước ngoài.

GLTT: Ung dung nang luong nguyen tu phat trien kinh te-xa hoi
GS.TSKH. Trần Duy Quý cùng các cộng sự.

Người ta thường nhớ tới sự vất vả của những người nông dân trồng ra hạt gạo mà ít người nhớ tới vai trò của những nhà khoa học hàng ngày cần mẫn trong những phòng thí nghiệm để tạo ra những giống lúa mang lại mùa màng bội thu cho nông dân. Ông có thể chia sẻ với độc giả báo Đất Việt những khó khăn trong nghiên cứu chọn tạo giống lúa đột biến bằng công nghệ hạt nhân?( Cù Huy, 48 tuổi, Thái Bình )

GS.TSKH. Trần Duy Quý:

Trong chọn tạo giống lúa hiện nay ở tất cả các Viện, Trường công lập và các tổ chức Phi chính phủ tuy đã được Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất như Phòng thí nghiệm, đồng ruộng và kinh phí tuy nhiên mức đầu tư còn dàn trải phân tán, không đủ để tạo nên những đột phá trong nghiên cứu chọn tạo giống mới nhất là chưa có các trang thiết bị chuyên dụng cho các đối tượng cây trồng cụ thể như lúa. Vì thế, các nhà khoa học phải nhờ các trung tâm chiếu xạ đa năng ở Cầu Diễn, Hà Nội hay ở các bệnh viện ung thư hoặc Viện hạt nhân ở Đà Lạt hoặc phải gửi đi nước ngoài. Vì thế không đảm bảo được thời gian, các thông số kỹ thuật  lúc chiếu xạ như các nước tiên tiến đang áp dụng. Các kết quả chúng ta thu được vẫn chưa xứng với tiềm năng, con người ở đất nước ta.

Trong giai đoạn tới, ta cần đào tạo nhân lực, đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí, đặc biệt là Trung tâm chọn giống đột biến mà trong quyết định của Chính phủ đã giao cho Bộ NN-PTNT xây dựng tại Viện Di truyền Nông nghiệp vẫn chưa được triển khai.

GLTT: Ung dung nang luong nguyen tu phat trien kinh te-xa hoi
GS.TSKH. Trần Duy Quý giao lưu trực tuyến tại Báo Đất Việt.

Có ý kiến cho rằng, trình độ nguồn nhân lực cho xạ trị, X-quang và y học hạt nhân ở nước ta hiện nay vẫn còn thiếu, nhất là cán bộ có đủ chuyên môn, trình độ khám, chữa bệnh với kỹ thuật cao, hiện đại? Thực tế điều này tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 ra sao, thưa ông?( Vũ Tuấn Việt, 41 tuổi, Hồ Chí Minh )

PGS.TS. Bác sĩ. Lê Ngọc Hà : Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong thời gian qua nguồn nhân lực cho xạ trị, X-quang và y học hạt nhân ở nước ta hiện nay vẫn còn thiếu, nhất là cán bộ có đủ chuyên môn, trình độ khám, chữa bệnh với kĩ thuật cao, hiện đại.

Nguyên nhân chủ yếu là do đào tạo nguồn nhân lực trong nước chưa đáp ứng được với nhu cầu và sự phát triển của công nghệ. Thực tế đòi hỏi Bệnh viên TW Quân dội 108 phải chú trọng đến việc tăng cường đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao nói chung, đặc biệt là trong y học hạt nhân và xạ trị là những chuyên ngành có bước phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây. Chúng tôi đã tổ chức nhiều loại hình huấn luyện, chuyển giao kĩ thuật, đào tạo và gắn liền với tự đào tạo, đào tạo liên tục, phối hợp đào tạo trong nước và ngoài nước, tận dụng hợp tác quốc tế với Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế và hợp tác với các nước tiên tiến trong lĩnh vực này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Bỉ...



GLTT: Ung dung nang luong nguyen tu phat trien kinh te-xa hoi
PGS.TS. Bác sĩ. Lê Ngọc Hà trả lời chương trình GLTT.




 

Chiến lược ứng dụng NLNT vì mục đích hòa bình đến năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 01/2006/QĐ-TTg ngày 03/01/2006. Lĩnh vực phát triển ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đã được đặt ra như thế nào trong Chiến lược, thưa ông?( Phương Uyên, 28 tuổi, Đà Nẵng )

TS. Hoàng Anh Tuấn : Ở Việt Nam, Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020 (Chiến lược) đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 01/2006/QĐ-TTg ngày 03/01/2006 với mục tiêu chung là từng bước xây dựng và phát triển ngành công nghiệp, công nghệ hạt nhân có đóng góp hiệu quả trực tiếp cho phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước.

Trong lĩnh vực ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ, Chiến lược đặt ra mục tiêu là “Ứng dụng rộng rãi, hiệu quả năng lượng bức xạ trong các ngành kinh tế - kỹ thuật có đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế, phục vụ nhu cầu, xã hội như chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Từng bước chế tạo các trang thiết bị sử dụng năng lượng bức xạ, tiến tới làm chủ một số công nghệ năng lượng bức xạ hiện đại.”

Chiến lược cũng đề ra các nhiệm vụ cụ thể cho ứng dụng NLNT trong từng lĩnh vực như: y tế, công nghiệp, nông nghiệp, khí tượng-thủy văn và địa chất-khoáng sản và bảo vệ môi trường.

GLTT: Ung dung nang luong nguyen tu phat trien kinh te-xa hoi
TS. Hoàng Anh Tuấn.


Để cụ thể hóa các nhiệm vụ của Chiến lược, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển, ứng dụng NLNT vì mục đích hòa bình đến năm 2020 (Quyết định số 957/QĐ-TTg ngày 24/06/2010). Triển khai thực hiện Quy hoạch tổng thể, các Bộ, ngành đã xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các Quy hoạch chi tiết phát triển ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ trong các lĩnh vực Y tế, Công nghiệp, Nông nghiệp, Tài nguyên và môi trường đến năm 2020. Cụ thể:

-   “Quy hoạch chi tiết phát triển, ứng dụng bức xạ trong nông nghiệp đến năm 2020” (Quyết định số 775/QĐ-TTg ngày 02/06/2010);

-  “Quy hoạch chi tiết phát triển, ứng dụng bức xạ trong khí tượng, thủy văn, địa chất, khoáng sản và bảo vệ môi trường đến năm 2020” (Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2011);

-  “Quy hoạch chi tiết phát triển ứng dụng bức xạ trong công nghiệp và các ngành kinh tế-kỹ thuật khác đến năm 2020” (Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 20/01/2011);

-  “Quy hoạch chi tiết phát triển, ứng dụng bức xạ trong y tế đến năm 2020” (Quyết định số 1958/QĐ-TTg ngày 04/11/2011).

Thực hiện vai trò là cơ quan quản lý và hướng dẫn triển khai thực hiện Chiến lược, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã phối hợp với các Bộ, ngành và các cơ quan liên quan để triển khai các nhiệm vụ về phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử trong các ngành kinh tế - xã hội. Trong giai đoạn 2011 – 2016, hoạt động nghiên cứu, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ đã đạt được nhiều kết quả có giá trị khoa học và thực tiễn trong đó có một số lĩnh vực được ghi nhận ở tầm khu vực và trên thế giới.         

Được biết, hiện nay tại Việt Nam, khâu yếu trong ứng dụng bức xạ vào y học là chưa có hệ thống đào tạo cán bộ chuyên khoa xạ trị, bao gồm cả y học và kỹ thuật một cách đầy đủ - đặc biệt là đào tạo chuyên ngành sâu của xạ trị, X-quang và y học hạt nhân. Vấn đề đào tạo bài bản, cấp chứng chỉ hành nghề và chính thức hóa chức danh kỹ sư vật lý y học cũng chưa được đề cập tới, nên chưa có kế hoạch triển khai. Theo ông, cần có giải pháp gì để khắc phục vấn đề này?( Đoàn Phi Long, 47 tuổi, Hà Nội )

PGS.TS. Bác sĩ. Lê Ngọc Hà : Những vấn đề này cũng đã được đưa ra thảo luận nhiều lần nhưng dường như chúng ta chưa có biện pháp hữu hiệu và cụ thể. Theo tôi, đây là những vấn đề rất cấp bách, cần làm ngay. Đây là vấn đề liên ngành nên đòi hỏi các ban ngành ở Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ và các chuyên gia phải cùng phối hợp xây dựng thống nhất các chương trình đào tạo, cấp chứng chỉ hành nghề và chính thức hóa chức danh kĩ sư vật lý y học.  

Theo ông, cần có giải pháp gì để Việt Nam chủ động tạo ra các giống lúa có năng suất chất lượng tương đương hoặc cao hơn lúa lai nhập ngoại, tránh phụ thuộc vào Trung Quốc cũng như nhiều nước khác?( Hoàng Văn Nam, 57 tuổi, Đồng Tháp )

GS.TSKH. Trần Duy Quý:  Để chủ động tạo ra các giống lúa cao sản, chất lượng tốt hơn các giống lai nhập ngoại, Nhà nước cần tạo ra một chương trình cấp Nhà nước như KC05 ứng dụng kỹ thuật hạt nhân đang thực hiện nhưng phải dành cho lĩnh vực Nông nghiệp những đề tài nhiều hơn hiện nay. Vì trong giai đoạn vừa qua, chỉ có 1 - 2 đề tài không phủ hết được các mục tiêu của chọn tạo giống lúa.

Vì vậy, theo ý kiến của chúng tôi cần tập trung đầu tư vào các sản phẩm chủ lực, trong đó có lúa chất lượng cao bằng những chương trình khoa học nghiên cứu trọng điểm cấp Nhà nước và các bộ ngành. Nhà nước nên đặt hàng, khoán gọn cho các nhà khoa học, các Viện nghiên cứu, Trường đăng ký thực hiện những nhiệm vụ trọn gói ra được các sản phẩm cuối cùng là các giống lúa thuần và lúa lai Việt Nam có suất siêu cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh và các điều kiện bất thuận của môi trường.

Nói như vậy không có nghĩa một giống tạo ra phải có đầy đủ tất cả các đặc tính như vậy mà chứa ít nhất 2 - 3 đặc tính quan trọng. Để bảo đảm giống đó phát triển ổn định trong giai đoạn sản xuất. Có như vậy, chúng ta mới không phụ thuộc vào các giống lúa lai nhập nội.



GLTT: Ung dung nang luong nguyen tu phat trien kinh te-xa hoi
GS.TSKH. Trần Duy Quý bên cạnh giống lúa NPT5 năng suất 9-10 tấn/ha/vụ, gạo dẻo, thơm nhẹ.

Theo ông, việc nghiên cứu triển khai ứng dụng năng lượng nguyên tử trong chọn tạo giống lúa nói riêng và trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung thì sự đầu tư về cơ sở vật chất, nhân lực đã tương xứng với tiềm năng phát triển chưa?( Trần Lê Minh, 41 tuổi, Long An )

GS.TSKH. Trần Duy Quý: Có thể nói, kỹ thuật hạt nhân có rất nhiều ứng dụng có hiệu quả trong nhiều ngành kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp thì năng lượng hạt nhân có rất nhiều ứng dụng như: gây đột biến để tạo nguồn vật liệu di truyền phục vụ công tác chọn tạo giống, sử dụng kỹ thuật đồng vị phóng xạ trong nghiên cứu hiệu quả sử dụng phân bón của cây trồng, ứng dụng trong việc tạo ra giống côn trùng bất dục phục vụ bảo vệ cây trồng, ứng dụng chiếu xạ để bảo quản rau hoa quả phục vụ nội tiêu và xuất khẩu.

Vì vậy, để ứng dụng này phát huy được tác dụng, Nhà nước cần phải thực hiện ngay Quyết định của Thủ tướng về xây dựng chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử và kỹ thuật hạt nhân phục vụ phát triển các ngành kinh tế trong đó có lĩnh vực nông nghiệp.

Để thực hiện được nhiệm vụ này, cần đầu tư về cơ sở vật chất, nhân lực và xây dựng chương trình nghiên cứu khoa học cấp quốc gia.

Hiện tại, chúng ta mới ở giai đoạn đầu, cơ sở vật chất còn yếu kém, nhân lực trình độ cao còn thiếu, chưa tương xứng với tiềm năng phát triển.

Các cơ quan quản lý là Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các cơ quan liên quan cần phối hợp ra sao trong vấn đề này,thưa ông?( Trần Việt Dũng, 45 tuổi, Hà Nội )

PGS.TS. Bác sĩ. Lê Ngọc Hà: Câu trả lời không khó. Theo tôi cái khó là chưa được bắt đầu, chưa có sự quan tâm và phối hợp chặt chẽ và chưa thực sự quyết liệt trong việc giải quyết vấn đề này. Sau khi cùng nhau bàn bạc, tôi tin là các nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia sẽ tìm ra câu giải đáp ngay.

GLTT: Ung dung nang luong nguyen tu phat trien kinh te-xa hoi
PGS. TS. Bác sĩ. Lê Ngọc Hà đang trả lời câu hỏi từ bạn đọc báo Đất Việt.

Công nghệ bức xạ đã được ứng dụng khá rộng rãi trên thế giới, xin ông cho biết, việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ bức xạ đã được triển khai ở Việt Nam như thế nào?( Bắc Nguyễn, 37 tuổi, Đà Nẵng )

TS. Hoàng Anh Tuấn: Công nghệ bức xạ là một lĩnh vực khoa học công nghệ chuyên khai thác những ứng dụng của chùm bức xạ phát ra từ các nguồn phóng xạ hoặc các máy gia tốc.

Ở các nước trên thế giới, công nghệ bức xạ có rất nhiều ứng dụng và cho hiệu quả kinh tế-kỹ thuật cao, chẳng hạn trong lĩnh vực công nghiệp, ứng dụng công nghệ bức xạ cho sản xuất chất bán dẫn ở Mỹ, Nhật Bản đạt quy mô kinh tế 37 tỷ USD và 28 tỷ USD. Có thể nói đây là một lĩnh vực rất tiềm năng, cần đầu tư nghiên cứu, phát triển ở nước ta.

Ở nước ta, ứng dụng công nghệ bức xạ đã được triển khai trong các lĩnh vực, đặc biệt là chiếu xạ kiểm dịch phục vụ xuất khẩu thủy hải sản, hoa quả sang các thị trường Hoa Kỳ, châu Âu, Úc và Nhật Bản, khử trùng dụng cụ y tế, chế tạo các vật liệu nhờ xử lý bức xạ. Việt Nam hiện có 9 máy chiếu xạ ở quy mô công nghiệp ở Hà Nội, TP HCM, Bình Dương và Cần Thơ, được đánh giá là một trong những nước có số lượng các thiết bị tương đối nhiều so với các nước trong khu vực Đông Nam Á: Thái Lan 4 máy (3 Co, 1 EB), Indonesia 4 máy, Malaysia (6 máy). Ở Việt Nam, doanh thu từ chiếu xạ ở quy mô công nghiệp phục vụ xuất khẩu đối với các mặt hàng thủy sản, hải sản…vào các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật, Úc…đạt hàng trăm tỷ đồng mỗi năm.

Trung tâm nghiên cứu và triển khai công nghệ bức xạ (VINAGAMMA) và Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, ngoài hoạt động nghiên cứu-triển khai về công nghệ bức xạ, các đơn vị này thường xuyên cung cấp các dịch vụ chiếu xạ quy mô công nghiệp và bán công nghiệp, đặc biệt là dịch vụ chiếu xạ kiểm dịch phục vụ xuất khẩu thủy hải sản và hoa quả.

Trung tâm nghiên cứu và triển khai công nghệ bức xạ (VINAGAMMA) thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đã nghiên cứu và làm chủ công nghệ thiết kế, chế tạo thiết bị chiếu xạ Co-60 và đã cử chuyên gia sang hỗ trợ cho Cuba trong việc triển khai dự án khôi phục thiết bị chiếu xạ tại Viện nghiên cứu thực phẩm La Habana Cuba. VINAGAMMA sử dụng các thiết bị SVST-Co60/B (phát tia gamma) và thiết bị UELR-10-15T (phát tia điện tử) cho mục đích chiếu xạ khử trùng dụng cụ y tế, dược phẩm, mỹ phẩm, dụng cụ nuôi cấy mô - tế bào. Đầu năm 2016, Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội đã hoàn thành việc nâng cấp dây chuyền công nghệ chiếu xạ công suất 300 tấn quả/ngày nhằm đáp ứng nhu cầu chiếu xạ thực phẩm, nông sản phía Bắc.          

Mang “duyên nợ” với cây lúa, luôn lấy người dân làm trọng, đặt lợi ích người dân lên trên hết cho mục tiêu nghiên cứu của mình, ông có kiến nghị gì trong việc khảo nghiệm giống lúa sản xuất ở nhiều vùng sinh thái cũng như quy trình thâm canh tăng năng suất giống lúa, thưa ông?
( Hoàng Quyền, 48 tuổi, Thái Bình )

GS.TSKH. Trần Duy Quý:

Hiện nay, trong công tác khảo nghiệm giống lúa được Bộ NN-PTNT giao cho Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm giống cây trồng quốc gia đảm nhận trong thời gian qua đã đi vào hoạt động và có nhiều kết quả rất đáng khích lệ. Đáp ứng được nhu cầu sản xuất của người dân.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập cần phải chỉnh sửa cho phù hợp với giai đoạn mới. Theo quan điểm của chúng tôi, có 2 phương án.

Thứ nhất, xã hội hóa việc khảo nghiệm giống lúa. Tức là giao cho các cá nhân, tổ chức hoặc doanh nghiệp, Viện, Trường tự khảo nghiệm và tự chịu trách nhiệm về kết quả giống lúa của mình khi công bố và phóng thích ra sản xuất theo tiêu chuẩn giống mà Nhà nước quy định. Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống chỉ có vai trò kiểm soát, kiểm tra các giống lúa có đúng tiêu chuẩn như công bố và tiêu chuẩn quy định của Nhà nước hay không.

Thứ hai, tiếp tục cải cách chức năng nhiệm vụ của Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống. Tức là cần coi việc đánh giá, khảo nghiệm giống cây trồng mới là nhiệm vụ công ích, thường xuyên. Nhà nước phải bao cấp phần kinh phí khảo nghiệm này, tất nhiên cần có sự đóng góp thêm của các nguồn kinh phí từ các cá nhân, tổ chức gửi giống khảo nghiệm  thay vì cắt bỏ nguồn hỗ trợ của Nhà nước mà để Trung tâm tự lo. Điều này sẽ gây ra nhiều tiêu cực trong quá trình khảo nghiệm vì rất có thể có những giống tốt nhưng kinh phí không đủ dồi dào để đầu tư hỗ trợ như những doanh nghiệp mạnh, có truyền thống.

Vì thế, theo Viện Nghiên cứu hợp tác Khoa học kỹ thuật Châu Á Thái Bình Dương, Bộ NN-PTNT và các cơ quan liên quan nên cân nhắc rất kỹ tính tự chủ của Trung tâm khảo nghiệm giống.

GLTT: Ung dung nang luong nguyen tu phat trien kinh te-xa hoi
Nhà khoa học say mê với nghiên cứu nhưng cũng cần nguồn các tài chính hỗ trợ.

Được biết ở Việt Nam trong thời gian qua, hoạt động nghiên cứu, ứng dụng NLNT phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Ông có thể cho độc giả của báo Đất Việt biết một số kết quả nổi bật về ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ?( Hà Minh, 38 tuổi, Hà Nội )

TS. Hoàng Anh Tuấn: Trong giai đoạn 2011 – 2016, hoạt động nghiên cứu, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả có giá trị khoa học và thực tiễn trong đó có một số lĩnh vực được ghi nhận ở tầm khu vực và trên thế giới. Nhiều kết quả nổi bật trong ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ đã được báo cáo tại Hội thảo quốc gia lần thứ 2 về ứng dụng NLNT phục vụ phát triển kinh tế - xã hội do Cục Năng lượng nguyên tử chủ trì tổ chức tại Hà Nội vào tháng 10/2016. Có thể kể đến một số kết quả nổi bật như:

- Trong lĩnh vực y tế, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ được sử dụng chủ yếu ở ba lĩnh vực là y học hạt nhân, xạ trị và điện quang. Với phương thức xã hội hóa, nhiều trung tâm y học hạt nhân, xạ trị, chẩn đoán hình ảnh đã được thành lập với các thiết bị hiện đại, ngang tầm khu vực và trên thế giới như các máy xạ hình SPECT, SPECT/CT, PET/CT, các máy xạ trị cyber knife, gamma knife và các thiết bị chẩn đoán hình ảnh MRI, CT thế hệ mới… Việt Nam hiện có 32 cơ sở y học hạt nhân, trang bị 43 máy xạ hình (đạt tỷ lệ khoảng 0,5 máy/1 triệu dân), 25 cơ sở xạ trị với 53 máy xạ trị (đạt tỷ lệ khoảng 0,6 máy/1 triệu dân). Kỹ thuật xạ hình PET/CT sử dụng 18F-FDG, công nghệ tiên tiến của thế giới hiện đã trở thành kỹ thuật thường quy trong chẩn đoán - điều trị các bệnh về ung thư, tim mạch và thần kinh tại Việt Nam. Theo thống kê, tổng nhu cầu dược chất phóng xạ (DCPX) trong y tế của Việt Nam hiện nay gần 1400Ci/năm, trong đó Viện nghiên cứu hạt nhân (Đà Lạt) cung cấp gần 400Ci/năm, sản xuất trên các máy cyclotron khoảng 250Ci/năm (tổng lượng cung cấp trong nước đạt gần 50% nhu cầu, đáp ứng được mục tiêu đề ra trong Quy hoạch chi tiết). Để có thể đáp ứng được 70% nhu cầu trong nước như chỉ tiêu trong Kế hoạch chi tiết đặt ra, cần tăng cường sản xuất (DCPX) trên máy cylotron (do lò phản ứng nghiên cứu Đà lạt đã vận hành hết công suất).

- Trong nông nghiệp, việc ứng dụng năng lượng nguyên tử đã đạt được những thành tựu đáng kể trong chọn tạo giống đột biến, chiếu xạ nông sản cho kiểm dịch thực vật. Tính đến năm 2015, đã tạo ra và đưa vào sản xuất 61 giống, bao gồm 41 giống lúa, 9 giống đậu tương và một số giống hoa, ngô, táo, lạc,… Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) đánh giá Việt Nam là quốc gia đứng thứ 8 trên thế giới về đột biến tạo giống, được trao giải thưởng “thành tựu xuất sắc”. Viện Cây ăn quả miền Nam đã có 2 giống nhờ xử lý chiếu xạ tia gamma được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận và cho phép trồng sản xuất thử tại các tỉnh phía Nam, đó là giống cam Sành không hạt LĐ6 và giống bưởi Đường lá cam ít hạt LĐ4. Trong lĩnh vực bảo vệ thực vật, với sự hỗ trợ của IAEA, kỹ thuật tiệt sinh côn trùng (SIT) đang được các nhà khoa học tại Viện Bảo vệ thực vật - Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam triển khai nghiên cứu quản lý ruồi hại quả thanh long diện rộng, nhằm nâng cao chất lượng quả, tạo điều kiện xuất khẩu quả thanh long Việt Nam vào các thị trường cao cấp như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc.

- Trong công nghiệp, kỹ thuật hạt nhân được ứng dụng trong 4 lĩnh vực chủ yếu là kiểm tra không phá hủy (NDT), hệ điều khiển hạt nhân (NCS), chiếu xạ công nghiệp, kỹ thuật đánh dấu đồng vị phóng xạ (Tracer) và đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Trung tâm Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong công nghiệp (CANTI) đã nghiên cứu, thiết kế và chế tạo thành công thiết bị chụp ảnh cắt lớp thế hệ 3 và thiết bị CT/SPECT công nghiệp có nhiều ứng dụng trong công nghiệp dầu khí. Thiết bị CT GORBIT và phần mềm dựng ảnh do CANTI nghiên cứu, chế tạo đã được xuất khẩu sang 7 nước theo đặt hàng của IAEA. Phương pháp kiểm tra không phá hủy (NDT) được Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam nghiên cứu ứng dụng để kiểm tra chất lượng nhiều công trình lớn của quốc gia như cầu Mỹ Thuận, nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ, các công trình thủy điện,… Kỹ thuật đánh dấu được triển khai trên các mỏ dầu ở Việt Nam và xuất khẩu dịch vụ sang nước ngoài.

- Trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, năm 2015, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hoàn thành và nộp lưu trữ đã hoàn thành và nộp lưu trữ Bản đồ phông bức xạ tự nhiên Việt Nam tỷ lệ 1:1.000.000. Thực hiện Kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, đã xây dựng Bản đồ phóng xạ tự nhiên tỷ lệ 1:200.000 cho 5 khu đô thị, dân cư lớn và theo kế hoạch sẽ hoàn thành vào năm 2020. Đến nay, 27 trạm quan trắc phóng xạ đã được xây dựng tại các mỏ có chứa phóng xạ trên 16 tỉnh, thành. Ngoài ra, kỹ thuật thủy văn đồng vị được ứng dụng trong nghiên cứu tài nguyên nước, có đóng góp trong quản lý, khai thác tài nguyên nước ngầm tại khu vực Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh và Đồng bằng Sông Cửu Long.

Theo ông, trong thời gian tới Nhà nước cần có những biện pháp gì để phát huy hiệu quả cũng như đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu, ứng dụng NLNT trong phát triển kinh tế - xã hội?( Hoàng Dương, 37 tuổi, Đà Nẵng )

TS. Hoàng Anh Tuấn : Nhằm đẩy mạnh các hoạt động quản lý, nghiên cứu và ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, cần triển khai các giải pháp chủ yếu sau đây:

Hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và kiện toàn quản lý nhà nước:

Cần nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ hạt nhân, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong các ngành kinh tế - xã hội; chẳng hạn như nghiên cứu xây dựng Nghị định về ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút chuyên gia trình độ cao làm việc trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật; cần tổ chức nghiên cứu, đánh giá tác động kinh tế - xã hội của ứng dụng bức xạ, đồng vị phóng xạ ở Việt Nam; chuẩn bị các luận cứ khoa học và thực tiễn, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và dự báo phát triển để đề xuất dự thảo Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình cho giai đoạn sau năm 2020.

Ngoài ra, cần tiếp tục kiện toàn tổ chức, tăng cường năng lực quản lý nhà nước về phát triển, ứng dụng NLNT và về an toàn bức xạ, hạt nhân. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý ở Trung ương và địa phương để làm tốt nhiệm vụ quản lý trong lĩnh vực NLNT.

Đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ hạt nhân, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực:

Cần huy động các nguồn lực, tập trung đầu tư cho phát triển, mở rộng lĩnh vực ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ có đóng góp hiệu quả và trực tiếp trong các ngành kinh tế-xã hội. Triển khai chương trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong lĩnh vực NLNT; tăng cường vai trò tham gia của các viện nghiên cứu, các trường đại học, các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong hoạt động nghiên cứu, ứng dụng NLNT trong các ngành kinh tế-xã hội.

Bên cạnh việc tổ chức đào tạo ở trình độ đại học và sau đại học về khoa học công nghệ hạt nhân, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ, cần có kế hoạch ở quy mô quốc gia về đào tạo cán bộ quản lý, chuyên gia trong lĩnh vực này.

Tăng cường hợp tác trong nước và quốc tế:

Thúc đẩy hợp tác song phương với các nước, các tổ chức quốc tế, đặc biệt với Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Tăng cường hợp tác và phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức, doanh nghiệp để tiếp tục triển khai các Quy hoạch chi tiết phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ để có đóng góp trực tiếp và hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội.

Theo ông, cần có giải pháp gì để đẩy mạnh ứng dụng bức xạ trong chẩn đoán và điều trị trong thời gian tới?( Nguyễn Minh Trang, 49 tuổi, Hải Dương )

PGS. TS. Bác sĩ. Lê Ngọc Hà : Chiến lược và kế hoạch phát triển năng lượng nguyên tử của Thủ tướng Chính phủ đã mở ra cho ngành Năng lượng nguyên tử nói chung và Y học hạt nhân ở Việt Nam nói riêng những cơ hội và thách thức mới.

Để đảm bảo thực hiện có hiệu quả định hướng, kế hoạch của Chính phủ và ngành y tế, cần có sự chỉ đạo điều hành, tổ chức thực hiện, phân công nhiệm vụ cụ thể, kiểm tra, giám sát một cách thường xuyên của hệ thống quản lý nhà nước, của Bộ Y tế, Bộ Khoa học và Công nghệ và các bệnh viện trong và ngoài quân đội... Các định hướng phát triển của lĩnh vực y học hạt nhân nên tập trung vào một số vấn đề như sau:

- Chú trọng đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực y học hạt nhân bao gồm: bác sĩ, kĩ sư vận hành cyclotron và y vật lý, đội ngũ hóa- dược phóng xạ, kĩ thuật viên y học hạt nhân... Tiến hành các nghiên cứu đa trung tâm về công nghệ hạt nhân, chẩn đoán hình ảnh... liên quan đến y học hạt nhân, hóa- dược phóng xạ và ứng dụng y học hạt nhân trong chẩn đoán và điều trị.

- Đẩy mạnh việc đầu tư các trang thiết bị hiện đại cho các cơ sở y tế, bệnh viện tuyến TW như PET/CT, PET/MRI, SPECT/CT để khai thác sử dụng trong nghiên cứu về y học hạt nhân, phát triển dược phóng xạ và ứng dụng trong chẩn đoán và điều trị. Đầu tư cho các bệnh viện tuyến tỉnh và khu vực các thiết bị chẩn đoán và điều trị y học hạt nhân thiết yếu, phù hợp với trình độ nguồn nhân lực và hoàn cảnh địa phương như gamma camera, SPECT, SPECT/CT, đo độ tập trung tuyến giáp, các thiết bị đo liều, an toàn bức xạ...

- Tiếp tục đầu tư và mở rộng phạm vi nghiên cứu và sản xuất các đồng vị và dược chất phóng xạ từ lò phản ứng hạt nhân và các trung tâm cyclotron đã và đang xây dựng trong nước. Mở rộng việc ứng dụng các DCPX khác ngoài  F-FDG để giải quyết các vấn đề bệnh học và dược học ở mức độ phân tử, khắc phục các khó khăn của F-FDG trong lâm sàng và nghiên cứu khoa học. Phát triển hình ảnh phân tử (molecular imaging) bằng các DCPX khác nhau được cyclotron sản xuất tại chỗ phù hợp trình độ và khả năng của trang thiết bị, nhân lực cũng như bệnh lý ở nước ta.

Mở rộng việc điều trị bệnh bằng các DCPX nguồn hở, nhất là với ung thư. Đưa ra các kĩ thuật mới như cấy hạt phóng xạ, dùng micropheres gắn Y-90 điều trị một số bệnh nhân ung thư gan, phát triển xạ hình miễn dịch RIS và điều trị miễn dịch phóng xạ (Raduoimmunotherapy) với các tiến bộ của các DCPX là các kháng nguyên, kháng thể và receptor đánh dấu đồng vị phóng xạ phát beta và alpha.

- Mở rộng ứng dụng các kỹ thuật chẩn đoán và điều trị YHHN vào nhiều chuyên khoa khác nhau và phạm vi rộng (tuyến tỉnh và khu vực) nhằm mang lại thuật lợi cho các chuyên khoa khác và lợi ích thiết thực cho bệnh nhân. Ứng dụng các kỹ thuật thăm dò chức năng chẩn đoán, ghi hình SPECT, SPECT/CT trong các bệnh tim mạch, tiêu hóa, thiết niệu, tâm- thần kinh, ung thư, nội tiết, bệnh truyền nhiễm, nhiễm trùng, nhi khoa. Mở rộng các ứng dụng PET/CT trong chẩn đoán các bệnh tim mạch, tâm thần kinh...

- Ứng dụng các thành tựu mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin để phối hợp với chẩn đoán hình ảnh và YHHN tạo ra các chương trình phần mềm tốt hơn trong thực hành lâm sàng và tái tạo các hình ảnh không gian giúp ích cho chẩn đoán và điều trị.


Báo Đất Việt trên Facebook
.


Sự Kiện