KH-CN phục vụ phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn

KH&CN là quốc sách hàng đầu, cần được ưu tiên tập trung trước một bước trong hoạt động của các cấp, các ngành, đặc biệt là trong nông nghiệp.

Đây là chủ đề của buổi Giao lưu trực tuyến do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển truyền thông khoa học và công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) phối hợp với Báo Đất Việt tổ chức từ 9h00 – 11h00 ngày 23/11, tại Hà Nội.

Tham gia Giao lưu trực tuyến có ông Chu Thúc Đạt – Phó Vụ trưởng Vụ phát triển KH&CN địa phương (Bộ KH&CN); GS. Nguyễn Tuấn Anh, Chủ nhiệm Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới; GS. Trần Đức Viên, Chủ tịch Hội đồng Học viện Nông nghiệp Việt Nam.

Nội dung buổi giao lưu trực tuyến sẽ làm nổi bật được mục đích, ý nghĩa của việc ứng dụng KH&CN trong lĩnh vực nông nghiệp. Đồng thời nhằm khẳng định những thành tựu KH&CN đã tác động mang lại hiệu quả kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung và vào quá trình xây dựng phát triển nông thôn mới nói riêng.

KH-CN phuc vu phat trien nong nghiep, nong dan, nong thon
Ứng dụng KH&CN trong nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao

Nghị quyết số 26 –NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa X) ban hành, đã tạo ra nhiều đổi mới mạnh mẽ về cơ chế, chính sách để huy động các nguồn lực, phát triển nhanh kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân, dân cư nông thôn, nhất là vùng khó khăn.

Đây là một chủ trương lớn đúng đắn, kịp thời và hợp lòng dân của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và trong 10 năm (2008 – 2017) thực hiện Nghị quyết số 26 - NQ/TW, lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn đã đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận.

Theo đánh giá của Bộ NN&PTNT, nhờ huy động từ nhiều nguồn lực, bộ mặt nông thôn ngày càng phát triển, văn minh, hiện đại hơn, nông thôn mới đã trở thành hiện thực ở 34,4% số xã và 43 huyện trên cả nước, Chương trình xây dựng nông thôn mới đã có sức lan tỏa với sự tham gia của cả hệ thống chính trị từ trung ương tới cơ sở và người dân. Thu nhập bình quân hộ gia đình ở nông thôn tăng từ 75,8 triệu đồng năm 2012 lên khoảng 130 triệu đồng năm 2017, đã góp phần quan trọng xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn (bình quân 1,5%/năm), nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống cho cư dân nông thôn.

Nhằm góp phần thúc đẩy hoàn thành Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2016 và giai đoạn 2016-2020 do Bộ NN&PTNT chủ trì tổ chức thực hiện. Đến nay, sau hơn bảy năm triển khai nhiều đề tài, dự án KH&CN, các mô hình sản xuất mới đã được ứng dụng vào quá trình xây dựng nông thôn mới, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Bên cạnh đó, Chương trình Hỗ trợ ứng dụng tiến bộ KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số do Bộ KH&CN chủ trì tổ chức thực hiện cũng có rất nhiều đóng góp cho việc đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ KH&CN để phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn nói chung cũng như nông thôn mới nói riêng.

KH&CN đã được khẳng định là quốc sách hàng đầu là nội dung cần được ưu tiên tập trung trước một bước trong hoạt động của các cấp, các ngành. Trong đó, việc ứng dụng, chuyển giao công nghệ vào thực tiễn đời sống là yêu cầu quan trọng và quyết định.

KH&CN đã trở thành yếu tố chính giúp tăng năng suất, giảm giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp, nhất là trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập ngày càng sâu rộng. KH&CN được coi là “xương sống” để ngành nông nghiệp nâng cao giá trị cho nông sản. Không chỉ phát huy thế mạnh trong lĩnh vực thủy sản, chăn nuôi, KH&CN còn là lời giải cho bài toán tái cơ cấu ngành trồng trọt và xây dựng mô hình nông thôn mới trên cả nước...

Thông qua buổi giao lưu trực tuyến, độc giả sẽ được các chuyên gia, nhà khoa học cung cấp những thông tin về: chính sách của Nhà nước trong việc ứng dụng KH&CN phục vụ xây dựng và phát triển nông thôn mới; về kết quả thực hiện Chương trình hỗ trợ ứng dụng KH&CN vào phát triển kinh tế - xã hội nông thôn miền núi và vùng dân tộc thiểu số (Chương trình Nông thôn miền núi) và hiệu quả tác động của Chương trình này với việc đưa nhanh các tiến bộ KH&CN và phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Đồng thời, độc giả sẽ có thêm góc nhìn về thực trạng ứng dụng KH&CN trong nông nghiệp hiện nay, thành tựu KH&CN nổi bật trong lĩnh vực nông nghiệp thời gian qua; Vai trò của mối liên kết giữa nhà nước – viện, trường với doanh nghiệp trong thúc đẩy chuyển giao tiến bộ KH&CN vào lĩnh vực nông nghiệp...

Các chuyên gia, nhà khoa học sẽ đưa ra những giải pháp thúc đẩy hoạt động ứng dụng, chuyển giao tiến bộ KH&CN để xây dựng nông thôn mới ngày một thành công hơn trong thời gian tới.

Để chia sẻ những thông tin về việc ứngdụng KH&CN trong nông nghiệp, từ 9h00 sáng ngày 23/11, các vị khách mời sẽ có buổi giao lưu trực tuyến với bạn đọc báo Đất Việt. Ngay từ bây giờ, xin mời độc giả có thể trực tiếp đặt câu hỏi với các vị khách mời tại ô bên phải màn hình.

KH-CN phuc vu phat trien nong nghiep, nong dan, nong thon
Các khách mời bắt đầu chia sẻ, giao lưu với độc giả cả nước. (Ảnh Trung Tuyến)

  • câu hỏi
    Xin ông cho biết, thời gian qua Nhà nước đã có những cơ chế chính sách gì liên quan đến việc hỗ trợ, khuyến khích nghiên cứu và ứng dụng KH&CN vào lĩnh vực nông nghiệp nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng?
    Hoàng Văn Duy , 48 tuổi , Hưng Yên
    trả lời Ông Chu Thúc Đạt- Phó Vụ Trưởng Vụ Phát triển KH&CN địa phương:

    Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, đầu tư phát triển khoa học và công nghệ, Nghị quyết số 20-NQ/TW Khóa XI đã xác định “Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc”, thực hiện chủ trương đó, Bộ Khoa học và Công nghệ đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và dịa phương chủ động tham mưu cho Chính phủ, Quốc hội ban hành rất nhiều cơ chế, chính sách để hỗ trợ, khuyến khích nghiên cứu và ứng dụng KH&CN vào lĩnh vực nông nghiệp nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng, cụ thể như: Chương trình phát triển công nghệ cao, đổi mới công nghệ quốc gia, sản phẩm chủ lực quốc gia tập trung vào những sản phẩm như lúa gạo, nấm ăn, nấm dược liệu, cá tra, cá ba sa, tôm, cây rau hoa quả… Đặc biệt, ngày 13/10/2015, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình hỗ trợ chuyển giao, ứng dụng tiến bộ KH&CN phục vụ phát triển kinh tế-xã hội nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số đến năm 2025 (Chương trình Nông thôn miền núi), giao Bộ KH&CN chủ trì phối hợp với các bộ ngành, địa phương triển khai thực hiện. Đây là một Chương trình mà đối tượng hỗ trợ trực tiếp là người dân vùng nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số ứng dụng tiến bộ KH&CN để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị của nông lâm thủy hải sản. Nhiều dự án thuộc Chương trình cũng trực tiếp phục vụ việc xây dựng nông thôn mới ở nhiều địa phương.

    Ông Chu Thúc Đạt- Phó Vụ Trưởng Vụ Phát triển KH&CN địa phương
    Ông Chu Thúc Đạt- Phó Vụ Trưởng Vụ Phát triển KH&CN địa phương


  • câu hỏi
    Muốn phát triển nông nghiệp bền vững không còn cách nào khác là phải áp dụng KH&CN vào các khâu sản xuất. Xin ông cho biết, thực trạng việc ứng dụng các tiến bộ KH&CN hiện nay để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp?
    Bùi Văn Tiến , 50 tuổi , Thái Bình
    trả lời Ông Chu Thúc Đạt- Phó Vụ Trưởng Vụ Phát triển KH&CN địa phương:

    Đúng như vậy, việc ứng dụng tiến bộ KH&CN vào các khâu sản xuất các sản phẩm nông nghiệp (theo chuỗi giá trị từ nguyên liệu đầu vào đến cung cấp sản phẩm tới người tiêu dùng) là rất quan trọng. Đây là một trong những yếu tố cạnh tranh sống còn của người dân, doanh nghiệp.

    Xác định được tầm quan trọng như vậy, những năm gần đây, nhiều vùng sản xuất nông nghiệp, nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, ứng dụng công nghệ tiến bộ vào sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị của nông lâm thủy hải sản. Chúng ta có thể thấy một số mô hình ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp thông minh ở nhiều địa phương như: trồng rau củ quả công nghệ cao ở Hà Nam, Hải Dương, Mộc Châu Sơn La, Đà Lạt, Lâm Đồng; Công ty Dabaco ở Bắc Ninh nuôi gà thịt, trứng gà sạch, nuôi tôm siêu thâm canh ở Bạc Liêu, cá tra, cá ba sa của Công ty Sao Mai, Vĩnh Hoàn ở An Giang…

    Thấy rõ được tầm quan trọng này, trong quá trình triển khai thực hiện các dự án thuộc Chương trình Nông thôn miền núi, Bộ KH&CN luôn luôn xác định mục tiêu hỗ trợ, chuyển giao tiến bộ KH&CN để phát triển các sản phẩm theo chuỗi giá trị. Từ việc lựa chọn giống mới, quy trình kỹ thuật sản xuất, thu hoạch, chế biến mới đến việc xây dựng các thương hiệu, bảo hộ sở hữu trí tuệ, ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, xúc tiến thương mại thị trường...
    Tuy nhiên, nhìn tổng thể sản xuất nông nghiệp của nước ta còn rất nhiều hạn chế, nhất là khu vực sản xuất nông hộ, hộ cá thể quy mô nhỏ… vì điều kiện sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, vốn đầu tư ít… Do vậy, rất khó khăn cho việc ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất, chính vì vậy năng suất, chất lượng sản phẩm chưa cao, không đồng đều. Đây là một trong những điều đáng quan tâm đối với các nhà quản lý trong việc ban hành các chính sách hỗ trợ phù hợp cho người dân ở khu vực này.


  • câu hỏi
    Xin ông cho biết thông tin khái quát về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới? Mục đích của Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới?
    Tạ Văn Đinh , 45 tuổi , Yên Mỹ, Hưng Yên
    trả lời GS. Nguyễn Tuấn Anh, Chủ nhiệm Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới:

    Ngày 16/8/2016, Chính Phủ có Quyết định số 1600/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới.

    Mục tiêu của chương trình gồm 2 mục tiêu.

    Thứ nhất là đến năm 2020 số đạt chuẩn nông thôn mới chiếm 50% tổng số xã xây dựng nông thôn mới, cả nước đạt 15 tiêu chí/xã.

    Thứ hai là giảm hộ nghèo: 6%, thu nhập tăng 1,8 lần so với năm 2015.

    GS. Nguyễn Tuấn Anh, Chủ nhiệm Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới trong cuộc Giao lưu trực tuyến.
    GS. Nguyễn Tuấn Anh, Chủ nhiệm Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới trong cuộc Giao lưu trực tuyến.


    Nội dung của chương trình gồm 11 nhiệm vụ trọng tâm:

    Một là quy hoạch xây dựng nông thôn mới;

    Hai là phát triển hạ tầng kinh tế xã hội;

    Ba là phát triển sản xuất gắn với tái cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn nâng cao thu nhập cho người dân;

    Bốn là giảm nghèo và an sinh xã hội;

    Năm là phát triển giáo dục ở nông thôn;

    Sáu là phát triển y tế cơ sở nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân nông thôn;

    Bảy là nâng cao chất lượng đời sống văn hóa của người dân nông thôn;

    Tám là vệ sinh môi trường nông thôn, khắc phục xử lý ô nhiễm và xử lý môi trưởng tại các làng nghề;

    Chín là nâng cao chất lượng, phát huy vai trò tổ chức Đảng, chính quyền,  đoàn thể chính trị xã hội trong xây dựng nông thôn mới;

    Mười là giữ vững quốc phòng, an  ninh trật tự xã hội nông thôn;

    Mười một là nâng cao năng lực xây dựng nông thôn mới và công tác giám sát, đánh giá thực hiện Chương trình; truyền thông về xây dựng nông thôn mới.

    Chỉ sau gần 1 năm Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới thì đến ngày 12/1/2017, Chính phủ phê duyệt Chương trình KHCN phục vụ xây dựng nông thôn mới.

    Mục đích của chương trình KHCN phục vụ xây dựng nông thôn mới là nhằm phục vụ cho chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới.

    Mục tiêu của chương trình KHCN phục vụ xây dựng nông thôn mới là:

    Thứ nhất, nghiên cứu, đề xuất bổ sung, hoàn thiện cơ sở lý luận của mô hình nông thôn mới để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 - 2020.

    Thứ hai, nghiên cứu, đề xuất bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, giải pháp khoa học và công nghệ xây dựng nông thôn mới để áp dụng cho Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020.

    Thứ ba, xây dựng một số mô hình nông thôn mới trên cơ sở ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, từ đó đánh giá hiệu quả để tổ chức nhân rộng trên phạm vi cả nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới.

    Thứ tư, nâng cao nhận thức và trình độ ứng dụng khoa học và công nghệ của doanh nghiệp, người dân và các tổ chức kinh tế trong quá trình xây dựng nông thôn mới.

    Thứ năm, một số chỉ tiêu cụ thể như sau:

    a) 70% đề tài, dự án thuộc Chương trình có kết quả được công bố trên các tạp chí khoa học và công nghệ và phải có tài liệu, sổ tay hướng dẫn chuyển giao công nghệ;

    b) 100% các đề tài có kết quả được áp dụng vào thực tế xây dựng nông thôn mới;

    c) Xây dựng được các mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, có sự tham gia đầu tư của các doanh nghiệp.

    Trong đó, có ít nhất 60% mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm, nhất là đối với các nhóm sản phẩm chủ lực (cấp quốc gia, cấp tỉnh và cấp cơ sở thôn, xã);

    d) Chuyển giao được các công nghệ mới, tiên tiến, phù hợp với các vùng miền, tăng hiệu quả sản xuất lên tối thiểu 25%, góp phần tăng thu nhập cho nông dân từ 20% trở lên;

    đ) Các đề tài, dự án thuộc Chương trình thực hiện đào tạo, tập huấn chuyển giao công nghệ cho 10.000 lượt đối tượng chuyển giao công nghệ và nhận chuyển giao công nghệ ở nông thôn.

    Nội dung của chương trình gồm 5 nội dung trọng tâm:

    Một là, nghiên cứu, khảo sát các mô hình tổ chức xã hội nông thôn ở Việt Nam và một số nước trên thế giới; những bài học kinh nghiệm xây dựng mô hình nông thôn mới trong thời gian qua để xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, lộ trình, vai trò của các chủ thể trong xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam gắn với đô thị hóa văn minh trong hội nhập quốc tế đến năm 2020 và trong giai đoạn tiếp theo.

    Hai là, nghiên cứu, đề xuất bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách xây dựng nông thôn mới.
     
    Ba là, nghiên cứu, đề xuất các giải pháp khoa học và công nghệ để xây dựng nông thôn mới.

    Bốn là, xây dựng một số mô hình trình diễn về nông thôn mới trên cơ sở ứng dụng các thành tựu, giải pháp khoa học và công nghệ.

    Năm là, xây dựng nội dung và tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao năng lực nắm bắt, ứng dụng khoa học và công nghệ cho các đối tượng có liên quan đến việc xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chuyển giao công nghệ, nông dân và doanh nghiệp.


  • câu hỏi
    Những thuận lợi, cũng như khó khăn trong việc triển khai thực hiện Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới?
    Nguyễn Hưng Hiền , 50 tuổi , Kim Sơn, Ninh Bình
    trả lời GS. Nguyễn Tuấn Anh – Chủ nhiệm Chương trình KHCN phục vụ xây dựng nông thôn mới:

    Thuận lợi của Chương trình KHCN phục vụ xây dựng nông thôn mới trước hết là được Đảng, nhà nước, Chính phủ quan tâm đặc biệt mà trực tiếp là Bộ Nông nghiệp và PTNTvà Bộ Khoa học và công nghệ đã chỉ đạo quyết liệt trong quá trình tổ chức thực hiện Chương trình tạo nguồn lực các văn bản pháp quy tháo gỡ những khó khăn phát sinh trong quá trình triển khai.

    Sau đó là được sự ủng hộ hưởng ứng rộng rãi của các địa phương, tổ chức khoa học, doanh nghiệp và người dân.

    Tuy nhiên khó khăn là nhu cầu của địa phương thì nhiều (đã có hàng nghìn đề xuất gửi về Chương trình) mà nguồn lực thì hạn chế. Sau nữa là chưa được áp dụng các cơ chế đặc thù cho Chương trình.


  • câu hỏi
    Thưa GS Trần Đức Viên, ông đánh giá như thế nào về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới?
    Lương Hoàng Anh , 42 tuổi , Cần Thơ
    trả lời GS Trần Đức Viên: - Từ khi thành lập đến nay Đảng luôn quan tâm đến giai cấp nông dân, nông nghiệp và nông thôn. Điều đó thể hiện trong Cương lĩnh của Đảng và được hiện thực hóa trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân (tam nông).

    Đại Hội X của Đảng đã ra Nghị quyết 26 tập trung về vấn đề tam nông. Nghị quyết 26 có 2 chương trình tập trung: Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông  thôn mới và Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới. Tách 2 chương trình này rất khó vì đó là tổng hòa chính sách của Đảng và Nhà nước.

    Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết Tam nông, bộ mặt nông thôn thay đổi hoàn toàn, nông nghiệp bắt đầu chuyển mình từ truyền thống sang hiện đại, thông minh, cuộc sống của nông dân được cải thiện.

    GS. Trần Đức Viên, Chủ tịch Hội đồng Học viện Nông nghiệp Việt Nam giao lưu với độc giả
    GS. Trần Đức Viên, Chủ tịch Hội đồng Học viện Nông nghiệp Việt Nam giao lưu với độc giả


    Về sản lượng lương thực, Việt Nam đã trở thành "cường quốc" về xuất khẩu nông sản, giá trị thặng dư xuất khẩu chiếm 1/4 tổng giá trị xuất khẩu nông sản.

    Bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới về điện, đường, trường, trạm, bệnh viện... đi đâu cũng khởi sắc, cuộc sống nông dân được cải thiện. Thu nhập lao động bình quân đạt 35-36 triệu đồng/người/năm; thu nhập hộ gia đình bình quân đạt 135-136 triệu đồng/năm, tăng 3,5 lần so với trước khi Nghị quyết 26 ra đời.

    Tỷ lệ các xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới đến tháng 11/2018 là 41% và chắc chắn vượt mục tiêu 50% vào năm 2020. An ninh lương thực đảm bảo, an ninh dinh dưỡng được cải thiện.

    Những thành tựu đó rất quan trọng. Nhờ Nghị quyết 26 bộ mặt nông thôn đã thay đổi đáng kể, nông nghiệp truyền thống chuyển sang hiện đại, thông minh, nhiều mặt hàng nông sản cạnh tranh được với thế giới.

    Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số vấn đề bất cập, ví dụ đồng ruộng còn manh mún, do đó một trong những ưu tiên của ngành nông nghiệp là tích  tụ đất đai để sản xuất hàng hóa tập trung.

    Lực lượng lao động nông thôn chất lượng có nguy cơ bị suy giảm vì người có trình độ đã rời bỏ nông thôn ra thành phố kiếm việc làm. Môi trường nông thôn bị xấu đi trông thấy, ô nhiễm đất, nước, không khí trở thành thành câu chuyện thường xuyên ở làng xã nông thôn, chưa kể văn hóa truyền thống bị mai một.

    Giá trị gia tăng nông nghiệp, sức cạnh tranh chưa cao. Việt Nam mới chỉ có một số mặt hàng cạnh tranh được với thế giới như: tôm, cá basa, đồ gỗ, lúa gạo đã bắt đầu vượt Thái Lan về giá. Vì thế, nhiệm vụ quan trọng của Việt Nam hiện nay là tập trung cải thiện các mặt hàng chủ lực.

    Vậy KH&CN đóng góp gì để cải thiện nông nghiệp, nông thôn và nông dân? Rất tiếc cho đến nay chúng ta chưa có đề tài nào đánh giá về vấn đề này. Tuy nhiên, phải khẳng định rằng, thành tựu phát triển nông nghiệp, cuộc sống nông dân, bộ mặt nông thôn không thể thiếu sự đóng góp của KH&CN, đặc biệt là các nhà khoa học trong các viện, trường... nông nghiệp luôn đồng hành cùng người nông dân.

    Chính họ đã tạo ra nhiều giống lúa mới, giống vật nuôi, đổi mới cải tiến quản lý, phát triển nông nghiệp. Phải ghi nhận nỗ lực của các nhà khoa học trong việc đồng hành cùng với nông dân. Người nông dân đơn lẻ hay bị thiệt thòi, do đó việc hình thành liên kết ngang (nông dân-nông dân) và liên kết dọc (nông dân- doanh nghiệp) theo chuỗi giá trị sản phẩm hàng hóa phải được ưu tiên.

    Sau này, Nhà nước tiếp tục đầu tư hơn nghiên cứu KH&CN về nông nghiệp nhưng những nghiên cứu ấy phải là hơi thở của cuộc sống, giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra cho nông nghiệp và nông thôn.

    Khi nào mỗi người nông dân là 1 doanh nghiệp, biết ngày nay sản xuất cái gì, ngày mai bán cho ai, ở đâu, mẫu mã thế nào, giá bao nhiêu, chấm dứt cảnh giải cứu nông sản thì Nghị quyết 26 sẽ thành công.


  • câu hỏi
    Sự tham gia của các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới?
    Nguyễn Minh Nhựt , 36 tuổi , Cà Mau
    trả lời GS. Nguyễn Tuấn Anh – Chủ nhiệm Chương trình KHCN phục vụ xây dựng nông thôn mới:

    Chương trình được sự tham gia phối hợp chặt chẽ của Bộ ngành Trung ương, Ban chỉ đạo Chương trình là thành viên của 11 Bộ ngành tham gia như: Bộ Khoa học công nghệ, Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên môi trường, Ủy ban dân tộc, Hội nông dân VN… 560 nhà khoa học hơn 100 các tổ chức tham gia.

    Giai đoạn 1 có 40 tỉnh và 22 doanh nghiệp tham gia Chương trình; Giai đoạn 2 (2016-2020) hầu hết cả 63 tỉnh thành và khoảng 20 doanh nghiệp tham gia tính đến thời điểm này.


  • câu hỏi
    Được biết Chương trình hỗ trợ ứng dụng tiến bộ KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số (còn gọi là Chương trình Nông thôn miền núi) những năm qua đã được coi là một chương trình KH&CN rất có hiệu quả trong việc đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ KH&CN vào thực tiễn sản xuất. Xin ông cho biết những đóng góp nổi bật của Chương trình trong phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn trong những năm qua?
    Lê Văn Công , 51 tuổi , Hải Dương
    trả lời Ông Chu Thúc Đạt- Phó Vụ Trưởng Vụ Phát triển KH&CN địa phương:

    Với mục tiêu chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ, quy trình kỹ thuật mới, đồng thời xây dựng được các mô hình ứng dụng chuyển giao có hiệu quả, quy mô phù hợp với vùng sinh thái từng địa bàn nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số. Xây dựng được các mô hình liên kết ứng dụng khoa học và công nghệ theo chuỗi giá trị hàng hóa, tạo sinh kế bền vững cho người dân. Trong những năm vừa qua, thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình Nông thôn miền núi (Quyết định số 1747/QĐ-TTg ngày 13/10/2015), Bộ KH&CN đã bám sát mục tiêu nội dung và yêu cầu sản phẩm của Chương trình, đến nay đã có hơn 500 quy trình công nghệ mới, tiến bộ KH&CN được ứng dụng chuyển giao, xây dựng thành công hơn 400 mô hình ứng dụng và đạo tạo được hơn 1000 lượt người dân. Các tiến bộ KH&CN đã có những đóng góp quan trọng cho việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và nâng cao đời sống cho người dân vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số.

    Một số kết quả cụ thể như: Mô hình ứng dụng công nghệ Biofloc của Israel trong nuôi thâm canh cá Rô phi đơn tính, cá Diêu hồng đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao tại Thái Nguyên được triển khai từ cuối năm 2016, do Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Nông nghiệp Đông Bắc chủ trì. Nuôi cá theo công nghệ này đã làm tăng năng suất đạt trên 120 tấn/ha (gấp 6 lần công nghệ nuôi thông thường), giảm lượng nước sử dụng 90% so với định mức của Bộ NN&PTNT, hiệu quả kinh tế tăng gấp 4 lần. Mô hình sản xuất đũa gỗ xuất khẩu tại tỉnh Tuyên Quang được triển khai từ cuối năm 2016 do Công ty cổ phần xây dựng tổng hợp Tuyên Quang chủ trì. Sản phẩm hoàn chỉnh đã được xuất khẩu trực tiếp đến thị trường Nhật Bản tại công ty Yanagi Products.Co.ltd. Tính đến thời điểm hiện tại đã có trên 50 triệu đôi đũa gỗ được xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, giải quyết công ăn việc làm cho trên 60 người lao động thường xuyên và gần một trăm lao động thời vụ, thu nhập bình quân 7 triệu đồng/tháng. Dự án “Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ nâng cao chất lượng chè nguyên liệu cho chế biến chè Olong và chè xanh chất lượng cao tại tỉnh Lai Châu”, đã áp dụng trồng chè theo VietGAP làm tăng năng suất và chất lượng chè lên trên 10% so với trước đây. Các giống chè Kim Tuyên, PH8 đã được mở rộng từ vài chục ha đến nay đã là gần 750 ha. Dự án đã xây dựng được mô hình liên kết sản xuất với hơn 2.000 hộ nông dân, giải quyết được hơn 4.000 lao động trong vùng. …


  • câu hỏi
    Thưa ông, độc giả báo Đất Việt muốn biết tiêu chí cơ bản của nông thôn mới là gì? Xin ông chia sẻ để độc giả biết rõ hơn về điều này.
    Hồ Hồng Uyên , 40 tuổi , Nghệ An
    trả lời GS. Nguyễn Tuấn Anh – Chủ nhiệm Chương trình KHCN phục vụ xây dựng nông thôn mới:

    Chính phủ đã có quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 về việc ban hành bộ tiêu chí Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 gồm 19 tiêu chí.

    Trong đó có 4 tiêu chí cơ bản: tiêu chí về tổ chức sản xuất nâng cao thu nhập cho người dân; tiêu chí về văn hóa; tiêu chí về môi trường và an toàn thực phẩm; tiêu chí về quốc phòng và an ninh...


  • câu hỏi
    Theo ông cần phải có những giải pháp gì để Chương trình Nông thôn miền núi tới đây tiếp tục phát huy hiệu quả trong việc phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói chung cũng như trong việc phát triển nông thôn mới nói riêng?
    Phạm Hồng Phương , 47 tuổi , Hòa Bình
    trả lời Ông Chu Thúc Đạt- Phó Vụ Trưởng Vụ Phát triển KH&CN địa phương:

     Để đạt mục tiêu của Chương trình đề ra, phát huy tối đa hiệu quả, đồng thời phục vụ cho việc xây dựng Nông thôn mới, trong thời gian tới đây, Chương trình Nông thôn miền núi sẽ tập trung thực hiện các giải pháp chủ yếu sau:

    - Trước tiên phải xác định đúng đối tượng sản phẩm có lợi thế, tiềm năng phát triển, các mục tiêu, tiêu chí trực tiếp phục vụ xây dựng Chương trình nông thôn mới ở địa phương để xây dựng hồ sơ thực hiện dự án đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội.

    - Lựa chọn được những tiến bộ khoa học và công nghệ trong nước hoặc từ nước ngoài có hiệu quả, phù hợp với nhu cầu phát triển và điều kiện thực tế của từng sản phẩm, vùng miền, địa phương để triển khai ứng dụng, chuyển giao. Chú trọng công nghệ bảo quản, chế biến, xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các vùng khó khăn.

    - Lựa chọn địa bàn phù hợp, có điều kiện thuận lợi cho việc tham quan, học hỏi và nhân rộng mô hình, kết quả dự án.

    - Lựa chọn đối tượng tiếp nhận công nghệ có đủ điều kiện để triển khai ứng dụng tại địa phương.

    - Lựa chọn được cách thức chuyển giao phù hợp với tính chất, loại hình công nghệ và đối tượng tiếp nhận.

    - Tăng cường hoạt động dịch vụ chuyển giao, kết nối cung - cầu công nghệ hỗ trợ các cá nhân, tổ chức xây dựng và thực hiện các dự án khoa học và công nghệ.

    - Xây dựng và phát hành các tài liệu, ấn phẩm để phổ cập kiến thức, chia sẻ thông tin khoa học và công nghệ, kết quả thực hiện mô hình tại các địa phương cho vùng nông thôn, miền núi và vùng dân tộc thiểu số.

    - Huy động thêm nhiều nguồn lực về kinh phí (bao gồm cả ngân sách nhà nước và ngoài ngân sách nhà nước), mở rộng liên kết hợp tác, nhân lực để thực hiện Chương trình.


  • câu hỏi
    Trong giai đoạn 2011-2016, Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới đã thu nhận được những kết quả gì?
    Trịnh Đức Đạt , 30 tuổi , Chí Linh, Hải Dương
    trả lời GS. Nguyễn Tuấn Anh – Chủ nhiệm Chương trình KHCN phục vụ xây dựng nông thôn mới:

    Chương trình đã triển khai được 69 nhiệm vụ (trong đó 47 đề tài và 22 dự án), đã bám sát Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, chuyển giao được 147 công nghệ và quy trình kỹ thuật; xây dựng được 185 mô hình chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất, 26 sổ tay hướng dẫn nông dân làm khoa học, 5000 hộ nông dân trên 100 xã được hưởng lợi, đào tạo được 11.000 lượt người tiếp nhận kiến thức khoa học và sản xuất theo chuỗi ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới.

    Đặc biệt, Chương trình cũng xuất bản một ấn phẩm đặc biệt mang tên “Khoa học với sự nghiệp nông thôn mới”. Ấn phẩm được Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đánh giá là kết quả về cơ sở lý luận và ứng dụng thực tiễn trong lĩnh vực khoa học xã hội và khoa học công nghệ.

    GS. Nguyễn Tuấn Anh với ấn phẩm “Khoa học với sự nghiệp nông thôn mới
    GS. Nguyễn Tuấn Anh với ấn phẩm “Khoa học với sự nghiệp nông thôn mới"


    Tại Hội nghị tổng Chương trình Khoa học và công nghệ phục vụ xây  dựng nông thôn mới giai đoạn 2012-2017 ngày 6/8/2018 tại Vĩnh Phúc, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ kết luận Chương trình “ đã tạo bước chuyển biến mạnh mẽ phục vụ trực tiếp cho việc ứng dụng khoa học và công nghệ vào hoạt động sản xuất ở nông thôn phục vụ xây dựng nông thôn mới. Đây là giai đoạn bản lề quan trong trong phong trào xây dựng nông thôn mới trên phạm vi toàn quốc, đồng thời hướng đến 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”…. “Chương trình đã góp phần thiết kế được hệ thống khung khổ, thể chế, chính sách của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; thu được kết quả về cơ sở lý luận và ứng dụng thực tiễn trong lĩnh vực khoa học xã hội và khoa học công nghệ; các giải pháp có tính liên ngành và các mô hình liên kết trình diễn cụ thể trong sản xuất; thu hút đông đảo lực lượng khoa học, công nghệ cả nước, có nhiều doanh nghiệp, nông dân, hợp tác xã tham gia.


  • câu hỏi
    Ông có thể nêu một số mô hình về liên kết chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp với nông dân trong sản xuất nông, lâm, thủy sản, có tính lan tỏa rộng, hiệu quả cao
    Đào Hải Yến , 32 tuổi , Quảng Uyên, Cao Bằng
    trả lời GS. Nguyễn Tuấn Anh – Chủ nhiệm Chương trình KHCN phục vụ xây dựng nông thôn mới:

    Những mô hình về liên kết chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp với nông dân trong sản xuất nông, lâm, thủy sản, có tính lan tỏa rộng như mô hình liên kết tổ chức sản xuất tái canh cây cà phê ở huyện Đăk Hà, tỉnh Kon tum với diện tích là 100 ha nay đã phát triển thành 2500 ha; mô hình tổ chức sản xuất ứng dụng tiến bộ kỹ thuật cho cây cam sành và bưởi da xanh ở Tiền Giang, Bến Tre từ 20 ha đã phát triển ra 100 ha; mô hình ốc hương kết hợp tôm sú, hải sâm ở Phú Yên từ 20ha đã phát triển nên 120 ha; mô hình về chuyển đổi sản xuất từ lúa sang rau củ quả ở Gia Khánh, Ninh Bình từ 10 ha phát triển nên 150 ha; mô hình liên kết sản xuất lúa chất lượng cao do Tổng công ty Giống cây trồng TW triển khai 300 ha tại Hải Dương, Thái Bình, Thanh Hóa  nay phát triển nên 4500 ha …

    Các mô hình trên đều có giá trị kinh tế thu từ 100- 450 triệu/ha (so với trồng lúa đạt 40-50 triệu/ha), hầu hết các mô hình trên đã tăng thu nhập cho người dân từ 20-30%.


  • câu hỏi
    Xây dựng nông thôn mới luôn là những vấn đề được quan tâm ở tất cả các nước và tùy theo điều kiện của mỗi nước để có cách giải quyết. Ví dụ như, để phát triển nông nghiệp Nhật Bản coi phát triển khoa học - kỹ thuật nông nghiệp là biện pháp hàng đầu. Vậy trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng, theo GS Trần Đức Viên cần phải có những giải pháp gì để đẩy mạnh việc ứng dụng KH&CN trong xây dựng nông thôn mới tại Việt Nam?
    Đỗ Dũng , 40 tuổi , Hà Nội
    trả lời GS Trần Đức Viên: - Vấn đề  tam nông là vấn đề toàn cầu và được thế giới quan tâm từ lâu.

    Châu Âu có 28 quốc gia nhưng chỉ thực hiện 1 chính sách đối với nền nông nghiệp, trong đó đặt ra những tiêu chí phát triển nông nghiệp - nông thôn rất cụ thể.

    Ngày nay, thế giới đều thừa nhận Nhật Bản là cường quốc nông nghiệp. Họ phát triển nông nghiệp bằng nhiều chính sách, trong đó nổi tiếng nhất là chính sách "Mỗi làng một sản phẩm" ra đời năm 1970 làm thay đổi bộ mặt nông thôn Nhật Bản. Nhờ đó, lao động nông nghiệp chiếm 3% dân số đất nước nhưng thừa sức nuôi 127 triệu người trong nước đồng thời xuất khẩu, họ tạo ra các sản phẩm nổi tiếng toàn cầu.

    Đầu tiên, Nhật Bản thực hiện chính sách người nông dân được tự chủ trên ruộng đất của mình và chính sách này kéo dài 16 năm. Sau đó, Nhật Bản thực hiện chính sách phát triển giá trị nông nghiệp, nông sản, xây dựng hợp tác xã kéo dài 30 năm.

    Đến những năm 90 của thế kỷ XX, Nhật Bản ra đời chính sách Takebe, trong đó có chính sách về an toàn, an ninh thực phẩm.

    Dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe, Nhật Bản rất quan tâm đến việc xóa nhòa ranh giới giữa thành thị và nông thôn, trong đó có chính sách trợ giá nông sản. Nhật Bản trợ giá có định hướng, họ muốn phát triển ngành nào thì trợ giá ngành đó. Nhật Bản khuyến khích nông dân không rời nông thôn để không tạo sức ép cho thành phố bằng cách phát triển nông thôn để người nông dân thấy đó là nơi đáng sống.

    Nhật Bản làm rất cẩn thận, đặc biệt quan tâm liên kết ngang, hình thành các nông hội, ở đó tập hợp những người nông dân liền bờ, liền thửa, cùng ham muốn sản xuất mặt hàng nào đó. Nhà nước trợ giá, hỗ trợ về KH&CN, máy móc, thiết bị để phát triển nông thôn.

    Sự hỗ trợ ấy chia làm 3 mức: chính quyền Trung ương đầu tư gì, địa phương đầu tư gì và các nông hội đầu tư gì để phát huy nội lực của người nông dân.

    Nông thôn Nhật Bản bây giờ cũng có nhà hát, thư viện, không thấy ranh giới giữa thành thị và nông thôn.

    Thành công của Hàn Quốc cũng được thế giới ghi nhận. Vào cuối những năm 60 của thế kỷ trước, thu nhập bình quân của người dân Hàn Quốc chỉ chừng 85 USD/người/năm, 85% nông dân còn nghèo đói.

    Khi đó, Tổng thống Park Chung Hee phát động phong trào tạm dịch là Làng mới, dựa vào nội lực của các cộng đồng làng xã là chính. Người nông dân tự chọn người giỏi nhất làm trưởng thôn, quyết định tổ chức làm cái gì, ở đâu, ra sao..., bản thân mỗi nông dân là một doanh nhân, gắn chặt chẽ với HTX; còn Nhà nước chỉ hỗ trợ một số lĩnh vực chủ yếu về vật tư thiết bị.

    Nhờ đó, sau 8 năm bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã thay đổi. thu nhập tăng vọt, HTX liên kết nông dân rất mạnh, phát huy tính tự cường dân tộc của người Hàn Quốc, 78% vốn đổ vào xây dựng nông thôn mới là của người nông dân ở cộng đồng đóng góp.

    Những bài học của Nhật Bản, Hàn Quốc sau này trở thành hình mẫu phát triển nông thôn mang tính thành cầu. Điều quan trọng nhất là họ dựa vào nội lực của nông dân, phát huy tiềm năng của họ, còn Nhà nước chỉ đóng vai trò bà đỡ, mang tính định hướng.

    Đối với Việt Nam, xây dựng nông thôn mới chỉ thành công thực sự khi xác định đó là việc của nông dân, Nhà nước tạo ra động lực, nguồn lực cho nông dân để họ phát huy sức mạnh tiềm năng.


  • câu hỏi
    Theo ông, để xây dựng nông thôn mới gắn với đô thị hóa, công nghiệp hóa nông nghiệp trước bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư thì cần chú trọng vào những vấn đề gì trong nghiên cứu khoa học để hiện thực hóa đưa nghiên cứu khoa học gắn với thực tiễn?
    Trần Quang Thái , 46 tuổi , Quảng Ninh
    trả lời  Ông Chu Thúc Đạt- Phó Vụ Trưởng Vụ Phát triển KH&CN địa phương

    Hiện nay, trong bối cảnh phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, việc khai thác các lợi thế của khoa học và công nghệ, ứng dụng các thành tựu của cuộc cách mạng này kỳ vọng sẽ tạo sự bứt phá cho phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung cũng như xây dựng nông thôn mới gắn với công nghiệp hóa nông nghiệp khu vực nông thôn miền núi nói riêng. Theo tôi, chúng ta cần quan tâm tới các giải pháp sau:

    - Trước hết, về mặt thông tin, truyền thông: phải đẩy mạnh để các cấp ủy Đảng, chính quyền và mọi người dân hiểu biết về bản chất, xu thế, lợi ích cũng như thách thức, vị trí vai trò quan trọng của việc nhanh chóng tiếp cận và ứng dụng các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đối với sản xuất nông nghiệp cũng như đời sống xã hội, để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của người dân. Hình thức tuyên truyền phải phong phú thông qua hội nghị, tọa đàm, giao lưu trực tuyến, qua các kênh báo chí, kể cả mạng xã hội...

    - Xây dựng và thực thi chính sách để tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi cho việc ứng dụng, chuyển giao các thành tựu KH&CN tiên tiến: Ở đây là các chính sách hỗ trợ của Nhà nước về quy hoạch vùng sản xuất, về chuyển giao công nghệ, về thu hút đầu tư , về thuế, ... cho các chủ thể, nhất là các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp.

    - Nhà nước tập trung hỗ trợ để xây dựng một số mô hình ứng dụng công nghệ 4.0 trong phát triển nông nghiệp, nông thôn để từ đó nhân rộng. Các mô hình này cần đa dạng ở nhiều quy mô khác nhau (địa phương, Quốc gia) như mô hình sử dụng hệ thống điện thoại thông minh trong phổ biến kiến thức KH&CN của Bắc Giang mà Chính phủ đang cho thí điểm hiện nay; hoặc quy mô là các dự án cụ thể ứng dụng các công nghệ cao, công nghệ thông minh trong sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn như: công nghệ IoT, công nghệ tự động hóa, công nghệ sinh học, ... Cần lưu ý việc lựa chọn công nghệ tiên tiến song cũng phải phù hợp và phát huy hiệu quả kinh tế- xã hội.

    - Nâng cao năng lực các tổ chức KH&CN cũng như năng lực tiếp thu công nghệ của người sản xuất: Các tổ chức KH&CN (viện, trường) có chức năng nghiên cứu, chuyển giao công nghệ phục vụ nông nghiệp, nông dân, nông thôn, cần chuyển mạnh sang các hoạt động nghiên cứu ứng dụng tiếp cận thành tựu của cuộc Cách mạng công nghệ 4.0. Ví dụ như: công nghệ sinh học, Internet kết nối vạn vật, trí tuệ nhân tạo, công nghệ tạo cơ sở dữ liệu lớn... phục vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Các đơn vị sự nghiệp KH&CN ở các địa phương cũng phải nâng cao năng lực, đào tạo nguồn nhân lực để có khả năng hỗ trợ người sản xuất.

    - Xây dựng và phát triển hạ tầng về công nghệ thông tin, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, cơ sở hạ tầng tốt nhất cho kết nối giữa doanh nghiệp, người sản xuất, thị trường tiêu thụ với các tổ chức KH&CN, trong nước cũng như ngoài nước.


  • câu hỏi
    Có ý kiến cho rằng, Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới đặt ra với mục tiêu đưa những thành tựu KH&CN ứng dụng vào thực tế sản xuất để xây dựng nông thôn mới, vậy đâu là thước đo để đánh giá mức độ đạt chuẩn nông thôn mới với sự tác động từ KH&CN nói riêng tại các địa phương?
    Nguyễn Văn Nam , 55 tuổi , Thái Thụy, Thái Bình
    trả lời GS. Nguyễn Tuấn Anh – Chủ nhiệm Chương trình KHCN phục vụ xây dựng nông thôn mới:

    Thước đo để đánh giá mức độ đạt chuẩn nông thôn mới với sự tác động từ KH&CN tại các địa phương là những kết quả khoa học góp phần thực hiện nâng cao các tiêu chí nông thôn mới. Chương trình đã được người dân thừa nhận và được lan tỏa, phát triển trên diện rộng, góp phần nâng cao .

    Nâng cao tiêu chí thu nhập cho nông dân bằng cách nâng cao giá trị, năng suất, chất lượng của sản phẩm nông nghiệp mà để có được điều đó thì rất cần thiết ứng dụng KH&CN.

    Đáp ứng tiêu chí về cơ sở hạ tầng nông thôn như thủy lợi thì có sự vào cuộc của Bộ KH&CN trong việc hướng dẫn nông dân tưới tiêu, sử dụng hệ thống thủy lợi...

    Về tiêu chí xử lý môi trường nông thôn như xử lý rác thải, xử lý rác thải từ làng nghề thì cũng phải có sự hướng dẫn về công nghệ, ứng dụng thành tựu KH&CN, tổ chức quản lý để thực hiện tại địa phương...


  • câu hỏi
    Có ý kiến cho rằng, hiện nay sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, trình độ công nghệ lạc hậu, doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp còn khiêm tốn, chưa có sự gắn kết giữa các nhà khoa học và các doanh nghiệp khiến cho việc phát triển nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại các địa phương còn gặp nhiều khó khăn. Quan điểm của ông về vấn đề này theo góc nhìn từ Chương trình Nông thôn miền núi?
    Nguyễn Đức Quý , 50 tuổi , Nam Định
    trả lời Ông Chu Thúc Đạt- Phó Vụ Trưởng Vụ Phát triển KH&CN địa phương: 

    Nhận định như vậy có phần đúng, tuy nhiên thông qua nhiều chủ trương, chính sách của Nhà nước, nhiều giải pháp của các cấp, ngành thì tình trạng này cũng đã được khắc phục trong thời gian gần đây. Trình độ công nghệ được cải thiện thông qua nhiều chương trình nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ; sự liên kết hợp tác giữa các nhà khoa học, cơ quan nghiên cứu với nhà sản xuất, doanh nghiệp ngày càng chặt chẽ hơn. Chương trình Nông thôn miền núi được Chính phủ giao cho Bộ KH&CN quản lý cũng là một trong những giải pháp nhằm giải quyết những hạn chế nêu trên.

    Như chúng ta đã trao đổi ở trên, thông qua việc thực hiện các dự án thuộc Chương trình, hàng trăm quy trình công nghệ, giống cây trồng vật nuôi, giải pháp kỹ thuật mới, xây dựng hàng trăm mô hình ứng dụng công nghệ, hàng nghìn lượt người dân được đào tạo, tập huấn kỹ thuật… tất cả kết quả đó đã góp phần rất lớn cho việc khắc phục những tồn tại hạn chế, khó khăn như bạn đã nêu.


  • câu hỏi
    Trước thực trạng hiện nay, nhiều độc giả băn khoăn muốn biết liệu rằng việc thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trong những năm qua tại địa phương diễn ra còn chậm so với mục tiêu. Ý kiến của ông về vấn đề này ra sao?
    Đoàn Hồng Thủy , 47 tuổi , Phủ Lý, Hà Nam
    trả lời GS. Nguyễn Tuấn Anh – Chủ nhiệm Chương trình KHCN phục vụ xây dựng nông thôn mới:

    Mục tiêu đặt ra của Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2015, số xã đạt chuẩn nông thôn mới là 20%, giai đoạn 2016 -2020 là 50%. Kết quả giai đoạn  1 đạt trên 17,15 % (chậm so với chỉ tiêu kế hoạch). Nhưng giai đoạn 2 tại thời điểm này đã đạt 41%, phấn đấu đến 2019 sẽ đạt là 49- 50%. Nếu đạt được chỉ tiêu này, sẽ vượt kế hoạch 1 năm.

    Tuy nhiên mức độ các xã đạt chuẩn nông thôn mới không đồng đều, từng vùng, từng miền, từng tỉnh khác nhau. Giữa các địa phương như ở Hải Dương, Nam Định, Thái Bình, Đồng Nai, Bình Dương… đến nay đã đạt 80-95%. Ngược lại một số tỉnh khó khăn ở miền núi, vùng sâu vùng xa khó có thể đạt được như kế hoạch.


  • câu hỏi
    Theo ông, ngành nông nghiệp cần phải có những giải pháp đồng bộ ra sao trong việc tập trung đẩy mạnh ứng dụng KH&CN để thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng nâng cao chuỗi giá trị, phát triển bền vững, gắn với xây dựng nông thôn mới?
    Phạm Thị Phượng , 50 tuổi , Sóc Sơn, Hà Nội
    trả lời  Ông Chu Thúc Đạt- Phó Vụ Trưởng Vụ Phát triển KH&CN địa phương:

    Giải pháp đồng bộ cho vấn đề này quả thật là khó, nhất là các giải pháp phải có tính khả thi phục vụ trực tiếp cho hai nội dung lớn là tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Mặc dù mục tiêu của hai vấn đề này có điểm chung đều là nâng cao hiệu quả của sản xuất nông nghiệp, hướng đến sản xuất nông nghiệp bền vững và xây dựng nông nghiệp nông thôn văn minh, hiện đại. Theo quan điểm cá nhân tôi, giải pháp đầu tiên phải đồng bộ, thống nhất về cơ chế, chính sách đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ KH&CN phục vụ nông nghiệp nông dân và nông thôn, chính sách đất đai, thuế, hỗ trợ nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất và đời sống...

    Thứ hai, phải huy động được tối đa các nguồn lực, cả hệ thống chính trị quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện và chung tay phát triển nền nông nghiệp hiệu quả cao và bền vững.

    Thứ ba, phải quy hoạch, lựa chọn, xác định đúng sản phẩm có lợi thế phát triển, có tiềm năng về thị trường để đầu tư, chuyển dịch cơ cấu cho phù hợp.

    Thứ tư, gắn kết chặt chẽ hơn nữa giữa việc nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ KH&CN vào sản xuất.

    Thứ năm, khuyến khích, hỗ trợ và thu hút doanh nghiệp tham gia vào chuỗi sản xuất của các sản phẩm nông sản. Phải xác định doanh nghiệp là trung tâm, hạt nhân của chuỗi giá trị này.


  • câu hỏi
    Để nông nghiệp Việt Nam thích ứng với điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu, đã đến lúc phải thay đổi sự phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu, theo ông, với vai trò là cơ quan quản lý của nhà nước về KH&CN, thời gian tới Bộ KH&CN cần phải làm gì để Chương trình Nông thôn miền núi nói riêng cũng như các chương trình, nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia khác thực sự hỗ trợ hiệu quả cho xây dựng nông thôn mới?
    Nguyễn Thế Quy , 54 tuổi , Sóc Sơn, Hà Nội
    trả lời Ông Chu Thúc Đạt- Phó Vụ Trưởng Vụ Phát triển KH&CN địa phương:

    Để thích ứng được các điều kiện, yêu cầu trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu ngày càng đi vào chiều sâu, thị trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, đồng thời gắn với việc hỗ trợ hiệu quả xây dựng nông thôn mới, với vai trò quản lý nhà nước về KH&CN, Bộ KH&CN sẽ chủ động tham mưu cho Đảng và Nhà nước ban hành mới, tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để làm thế nào tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc nghiên cứu khoa học và ứng dụng chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, phục vụ ngày càng hiệu quả và trực tiếp cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, xây dựng và ban hành hệ thống tiêu chuẩn quy chuẩn Quốc gia làm cơ sở cho việc nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa. Phát triển nguồn nhân lực, nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực hoạt động khoa học và công nghệ. Tập trung nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp công nghệ và nhanh chóng áp dụng vào sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn, ứng phó với tình trạng biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Đây là mục tiêu và nhiệm vụ chung của các Chương trình, nhiệm vụ KH&CN cấp Quốc gia do Bộ KH&CN quản lý tập trung thực hiện trong thời gian tới.

    Đối với Chương trình nông thôn miền núi, mục tiêu của Chương trình đã được xác định rõ trong Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, trước hết chúng tôi tập trung triển khai thực hiện làm sao đạt được các mục tiêu đã đặt ra đến năm 2020 và giai đoạn đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Bộ KH&CN là đơn vị chủ trì phối hợp với các bộ, ngành địa phương triển khai thực hiện thành công các mục tiêu này. Trước mắt, sẽ tập trung thực hiện các mục tiêu đã đặt ra đến năm 2020, cụ thể:

    - Xây dựng được ít nhất 1.200 mô hình ứng dụng, chuyển giao tiến Bộ KH&CN có hiệu quả, có quy mô phù hợp với vùng sinh thái của từng địa bàn nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số, trong đó có ít nhất 30% mô hình thực hiện ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số; xây dựng được ít nhất 20% mô hình liên kết ứng dụng khoa học và công nghệ theo chuỗi giá trị hàng hóa, tạo sinh kế cho người dân;

    - Chuyển giao được ít nhất 1.500 lượt công nghệ mới, tiên tiến phù hợp với từng vùng miền, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số;

    - Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý và tổ chức triển khai dự án, năng lực ứng dụng và chuyển giao công nghệ cho ít nhất 1.500 cán bộ quản lý và khoảng 2.500 kỹ thuật viên cơ sở ở địa phương, khoảng 80.000 lượt nông dân để có đội ngũ cán bộ kỹ thuật, quản lý thường xuyên bám sát địa bàn giúp nông dân tiếp tục mở rộng việc áp dụng các tiến bộ KH&CN đã được chuyển giao.


  • câu hỏi
    Thưa GS Trần Đức Viên, hiện nay, đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến liên kết trong nông nghiệp. Tuy nhiên, sự liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp, viện, trường và nhà nước còn chưa thực sự gắn kết dẫn đến lãng phí và hiệu quả đạt được chưa cao. Mặt khác, nguồn vốn đầu tư cho KH&CN trong nông nghiệp là chưa nhiều. Dưới góc độ của một Học viện trong lĩnh vực nông nghiệp, theo ông cần phải thực hiện những gì để giải quyết tình trạng này?
    Trần Văn Chín , 60 tuổi , Bến Tre
    trả lời GS Trần Đức Viên: - Phải thừa nhận câu chuyện liên kết ở Việt Nam còn chưa chặt chẽ. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này: đề tài của nhà khoa học chưa được ứng dụng nhiều, trong khi sản xuất luôn phải theo thị trường. Chính vì thế, có cảm giác doanh nghiệp không cần đến các nhà khoa học trong nước và có tư tưởng sính ngoại. Đó là một cản trở.

    Việc liên kết rất cần đến vai trò của các tổ chức trung gian. Ở nước ngoài thường có các tổ chức, công ty ươm tạo công nghệ, đóng vai trò trung gian gắn kết các nhà khoa học, các viện, trường, doanh nghiệp, địa phương với nhau.

    Đối với Việt Nam, thực ra việc liên kết này trên thị trường đã tự phát từ lâu, nhưng Quyết định 2075 năm 2013 của Thủ tướng phê duyệt Chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020 đã chính thức tạo ra hành lang pháp lý, giúp doanh nghiệp, nhà khoa học, viện, trường yên tâm, tự nguyện tham gia kết nối.

    Chính Quyết định này đã tạo động lực và cả áp lực để nhà khoa học khi nghiên cứu xác định rằng công trình của mình phải áp dụng được vào thực tiễn và doanh nghiệp đặt hàng các viện, trường các vấn đề mình cần.

    Nếu tổ chức thực hiện tốt, điều này sẽ trở thành động lực gắn kết các viện, trường, nhà khoa học, doanh nghiệp và thực tiễn sản xuất vì đáp ứng nhu cầu của thị trường.

    Muốn thực hiện tốt Quyết định 2075, Bộ KH&CN phải đổi mới cách xét duyệt và nghiệm thu đề tài. Tôi biết, sau Quyết định này, nhiều trường đại học đã thành lập các trung tâm ươm tạo công nghệ.


  • câu hỏi
    Trong giai đoạn 2016-2020, Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới sẽ tập trung thực hiện những nội dung gì?
    Trần Hoàng Nhật Minh , 28 tuổi , Hà Nội
    trả lời GS. Nguyễn Tuấn Anh – Chủ nhiệm Chương trình KHCN phục vụ xây dựng nông thôn mới:

    Trong giai đoạn 2016-2020, Chương trình KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới sẽ tập trung thực hiện những nội dung: tập trung thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm tại Quyết định 45/QĐ-TTg ngày 12/1/2017 và Quyết định 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ và Kết luận chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ tại Hội nghị Tổng kết của chương trình KHCN phục vụ chương trình nông thôn mới và những nhiệm vụ cấp bách theo yêu cầu đặt hàng của Chính phủ và các địa phương,

    Cụ thể là phát huy kết quả đạt được trong giai đoạn 1, tập trung vào các nhiệm vụ gắn với những vấn đề cấp thiết, xuất phát từ thực tiễn, phát huy vai trò chủ thể của người nông dân và cộng đồng. Trong đó, tiếp tục hoàn thiện  cơ chế chính sách thực hiện Chương trình, nhất là cơ chế chính sách hỗ trợ các vùng khó khăn (thôn, bản) nâng cao vai trò của người dân để phấn đấu vươn lên, cải thiện môi trường nông thôn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, an ninh trật tự nông thôn, phát huy nguồn lực; đánh giá bước đầu những kết quả đạt được giai đoạn 2016-2020, để đề xuất mô hình xây dựng nông thôn mới sau năm 2020.

    Chương trình trong giai đoạn tới cần ưu tiên tập trung chỉ đạo triển khai các mô hình, dự án chuyển đổi sản xuất gắn với thực tiễn, chuyển giao ứng dụng, phát huy lợi thế của từng vùng, miền để phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, xây dựng nông thôn mới gắn với đô thị hóa… Trong đó, đặc biệt chú trọng đến các dự án, mô hình phục vụ  triển khai Chương trình mỗi xã một sản phẩm.

    Khẩn trương hoàn thiện, bổ sung các văn bản pháp quy để kịp thời triển khai thực hiện Chương trình. Cần hoàn thiện quy trình để đẩy nhanh tiến độ tuyển chọn, giao trực tiếp các nhiệm vụ phù hợp với đặc thù của Chương trình, nhất là đối với các nhiệm vụ đột xuất, theo đặt hàng của Ban Chỉ đạo Trung ương các chương trình mục tiêu quốc gia, các Bộ, ngành và địa phương. Cần xác định rõ tiêu chí lựa chọn đề tài, dự án để đảm bảo sự chặt chẽ trong quá trình tuyển chọn, tránh dàn trải, tập trung được các nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm. Đối với những đề xuất có quy mô nhỏ của các địa phương nên lồng ghép thành những nhiệm vụ lớn, giải quyết những vấn đề có tính liên ngành, liên vùng.


  • câu hỏi
    Để đẩy mạnh ứng dụng kết quả nghiên cứu KH&CN vào thực tiễn xây dựng nông thôn mới, thời gian qua Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã có những chủ trương, định hướng gì để sinh viên nghiên cứu khoa học có tính ứng dụng, thưa GS Trần Đức Viên?
    Bùi Phương Thảo , 34 tuổi , Hà Nội
    trả lời GS Trần Đức Viên: - Học viện Nông nghiệp Việt Nam rất quan tâm đến KH&CN.  Ngay từ năm 2007, Học viện đã bán bản quyền giống lúa lai 3 dòng được 10 tỷ đồng và sau đó có một loạt sản phẩm KH&CN ra đời.

    Trước đó, Học viện đã thành lập công ty chuyển giao KH&CN và cách đây 5 năm thành lập công ty ươm tạo công nghệ hoạt động như một công ty đổi mới sáng tạo.

    Học viện đã thành lập các nhóm nghiên cứu mạnh, tập hợp các nhà khoa học không biên giới có cùng đam mê, cùng chí hướng. Cho đến nay, Học viên Nông nghiệp đã thành lập được 49 nhóm như vậy, tất cả đều hoạt động nghiên cứu hướng đến thị trường, xác định sản phẩm bán cho ai, ai dùng, bán ở đâu... 

    Các nhóm này đóng vai trò trung gian, đưa sản phẩm của nhà khoa học, viện, trường đến với các địa phương, doanh nghiệp, đồng thời đưa yêu cầu của địa phương, doanh nghiệp trở lại với nhà khoa học.

    Nguyên tắc hoạt động của các nhóm nghiên cứu này là phải bám chặt, phục vụ thực tiễn cuộc sống, đồng thời phải hội nhập quốc tế sâu rộng càng nhanh càng tốt.

    Trung tâm ươm tạo khuyến khích nhà khoa học cho ý tưởng nghiên cứu. Ban đầu nhiều người nghĩ đó là chuyện tầm phào nhưng sau đó đã phải thay đổi suy nghĩ và khẳng định đó là chuyện rất nghiêm túc.

    Năm qua, Quỹ ươm tạo công nghệ của Học viện đã chọn được 120 ý tưởng để tài trợ, giúp các nhóm tác giả nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ. Đặc biệt, chúng tôi khuyến khích các nhà khoa học trẻ từ nước ngoài trở về, "Việt Nam hóa" các công nghệ họ học tập được.

    Từ 120 ý tưởng trên, Học viện chọn được 30 đề tài nghiên cứu có thể ra sản phẩm phục vụ sản xuất, trong đó có 20 sản phẩm KH&CN được thương mại hóa.

    Với Quyết định 2075 và thực tiễn Việt Nam, trong tương lai, các nhà khoa học Việt Nam cần phải đưa các kết quả nghiên cứu KH&CN có thể ứng dụng vào thực tiễn lên sàn chứng khoán bởi với một nền kinh tế thị trường, mỗi sản phẩm KH&CN phải trả lời câu hỏi bán ở đâu, bán cho ai, bán như thế nào, giá bao nhiêu... Bây giờ nghe chuyện ấy có thể xa xôi nhưng đó là con đường đi tất yếu.

     

    BBT Báo Đất Việt


THÔNG TIN ĐẶT CÂU HỎI
Họ tên
Email
Địa chỉ
Tuổi
Nội dung câu hỏi

 
Sự Kiện