Nghìn tỷ quẳng xuống Biển Đông: Giật mình khi Tổ quốc hỏi

(Khoa học) - (ĐVO) - Bàn tiếp câu chuyện đầu tư con tàu hơn nghìn tỉ đồng để điều tra nghiên cứu tài nguyên môi trường biển, nhiều nhà khoa học nhắc thêm về việc nhiều năm qua, số tiền đầu tư không ít nhưng số đề tài điều tra, nghiên cứu biển ứng dụng vào thực tế lại rất ít.

Nói điều này để thấy nếu không xác định rõ những con người nào sẽ nghiên cứu cái gì, ai sẽ là người bước chân lên con tàu này sẽ là những lãng phí tiếp theo khi đầu tư mà không biết rõ đích đến.

Đầu tư nghìn tỷ nghiên cứu, khi Nhà nước hỏi đến thì... không có 

GS.TS Lê Đức Tố, Đại học Quốc gia Hà Nội, Chủ nhiệm Chương trình Khoa học và Công nghệ Biển phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội (KC09/06-10) cho biết, hiện các tư liệu nghiên cứu về biển Đông nằm rải rác ở rất nhiều cơ quan nghiên cứu.

Theo GS Tố, điều mà ngành khoa học làm được từ trước tới nay là có thể biết được biển Đông của Việt Nam có những gì.

Ví dụ trước những năm trước đây chúng ta chỉ biết trên biển Vịnh Bắc bộ có hơn 200 loài cá, nhưng qua khảo sát của Chương trình nay biết được ở đây có tới 600 loài cá. “Có những loài đặc hữu, chỉ có ở Vịnh Bắc bộ. Ngoài ra còn có rất nhiều dược liệu quý khác”, GS Tố nói.

Một số nghiên cứu khác chỉ ra được hệ thống chỉ tiêu kỹ thuật xây dựng công trình cho các đảo san hô trên quần đảo Trường Sa; phát hiện được một số dược liệu quý từ biển. Ngoài ra còn một số nghiên cứu liên quan đến thềm lục địa, hoạt động kiến tạo, sinh vật...

Các nhà khoa học thực hiện đo đạc, khảo sát trên biển. ảnh Phùng Văn Phách
Các nhà khoa học thực hiện đo đạc, khảo sát trên biển. ảnh Phùng Văn Phách

Tuy nhiên ông Võ Nam Thành, Viện Nghiên cứu Quản lý Biển&Hải đảo nhận định, một số công trình ven bờ hoặc trên các đảo cũng mới chỉ mang tính mô tả chứ không rút ra được quy luật gì về quá trình sinh khoáng. Các vấn đề liên quan đến kết hạch sắt - mangan cũng chưa có nghiên cứu nào đáng kể. Các nghiên cứu về gas hydrat cũng chỉ mới mang tính lý thuyết, dự đoán.

TS Dư Văn Toán, Viện Nghiên cứu quản lý biển và hải đảo, Bộ Tài nguyên và Môi trường làm phép tính,  riêng chương trình nghiên cứu về biển suốt thời gian qua được thực hiện đến 7-8 lần. Mỗi đợt có tới hơn 20 công trình thế nhưng số đề tài có thể có ứng dụng vào thực tế cũng rất ít.

TS Toán cũng nói thẳng, hiện tại Việt Nam không có ai đánh giá các công trình đã nghiên cứu trước đó. ‘Mới đây vụ KH&CN của Bộ TN-MT muốn có đánh giá lại để biết được với biển đã nghiên cứu được gì, nên làm tiếp thế nào; cái gì cần đưa vào nghiên cứu tiếp; cái gì đưa vào ứng dụng… nhưng cũng chưa ai làm được.

Mỗi chương trình nghiên cứu đầu tư vài chục tỉ đồng cũng không phải ít tiền, song nếu cứ để đó thì thực sự là lãng phí. Tôi nghĩ  nên có hội đồng độc lập, đa ngành để làm công tác hệ thống này’, TS Toán nói.

Một nhà khoa học nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy về biển cũng chia sẻ ví dụ để minh chứng cho việc lãng phí ‘nhỡn tiền’. Đó là, thực tế nghiên cứu một công trình thường vài ba tỉ đồng, thực hiện trong 4-5 năm, chia ra cho nhiều người thực hiện. Tại nhiều bộ, ngành, có những dự án đầu tư hàng nghìn tỉ nhưng chưa chắc đã đi đến kết quả như mong đợi.

‘Mới đây để phục vụ xác lập chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông, cần các số liệu liên quan tới địa hình, tài nguyên, điều kiện tự nhiên, hoàn lưu, cấu trúc nhiệt… Những mảng công việc này từ trước đã nhiều nơi nghiên cứu, song mỗi nơi làm một phách. Đến khi Nhà nước cần, hỏi thông tin, cơ sở dữ liệu không có.

Trước đó, có 3 đề tài về cơ sở dữ liệu về biển nhưng không thể xây dựng và lấy dữ liệu chuẩn để phục vụ cho việc lớn của đất nước. Hiện, dự án ‘Điều tra cơ bản về biển đông và hải đảo’ đầu tư 3.500 tỉ đồng, trong đó có một dự án nhỏ làm cơ sở dữ liệu xây dựng lại từ đầu. ‘Đầu tư như vậy nhưng không biết đến khi nào thì Việt Nam mới có bộ dữ liệu chuẩn’, vị này nói.

Nhà khoa học đến nhà nước đều mù mờ

TSKH Phan Trung Điền, chuyên gia địa chất dầu khí, nguyên phó Viện trưởng Viện Dầu khí, hiện là hội viên Hội Dầu khí Việt Nam cho biết, ở Việt Nam thực sự chưa có một chiến lược nào của nhà nước đối với Biển Đông.

'Một vài lời hô hào cũng chỉ là qua loa, không có một chiến lược quốc gia nào cho Biển Đông bởi vậy các nghiên cứu tuy rất ít ỏi cũng chỉ nằm xó", TS Điền nói.

‘Trong các cương lĩnh, các đường lối nhiệm vụ nếu có nói đến Biển Đông cũng là ít ỏi, qua quít; thực sự không có một chiến thuật chiến lược quốc gia nào cả. Tôi cho rằng nhà nước phải quan tâm và có chiến, sách lược cụ thể mới hy vọng có sự chuyển biến cho các hoạt động hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông, sau đó mới tính đến chuyện đầu tư thế nào’, TS Điền góp ý.

TS Dư Văn Toán cũng cho rằng, cần phải xem lại tầm Chiến lược KHCN biển của ta đang ở chỗ nào, mắt xích nào của thế giới. ‘Vì thông tin nào cũng mù mờ nên vô định hướng, nên các Viện nghiên cứu cũng mù mờ theo’, TS Toán lo ngại.

Ông Võ Nam Thành thì nhìn nhận nguồn nhân lực cho phát triển KHCN biển đang là vấn đề lớn khi khi lực lượng mỏng, phân tán, thiếu cán bộ chuyên gia đầu ngành ở những hướng chuyên sâu, mũi nhọn quan trọng.

Trong khi đó, việc đào tạo, trọng dụng, đãi ngộ cán bộ làm KHCN biển còn nhiều bất cập, cơ sở và quy mô đào tạo nhỏ lẻ và các định hướng, chương trình đào tạo về biển chưa toàn diện, thiếu cập nhật và chưa được tiêu chuẩn hoá.

Phương Nguyên

Thứ Ba, 11/06/2013 14:28



Sự Kiện