Mekong - Dòng sông hợp tác và phát triển

(Khoa học) - Nhân dịp Hội nghị GMS6 và CLV10, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có bài viết “Mekong: Dòng sông hợp tác và phát triển”.

Tiếp theo thành công của Hội nghị APEC 2017, bước vào năm mới 2018, chúng ta vinh dự là nước chủ nhà tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Tiểu vùng Mekong mở rộng (GMS) lần thứ 6 với sự tham gia của Lãnh đạo 6 nước Campuchia, Trung Quốc, Lào, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam và Hội nghị cấp cao về Tam giác phát triển Campuchia, Lào, Việt Nam (CLV) lần thứ 10, tổ chức tại Hà Nội trong các ngày 30-31/3/2018. Đây là 2 sự kiện quốc tế đa phương quan trọng hàng đầu của nước ta trong năm nay.

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Việt Nam đã đưa ra Sáng kiến lần đầu tiên tổ chức Diễn đàn Thượng đỉnh kinh doanh GMS. Sáng kiến này đã nhận được sự đồng thuận của các nước thành viên GMS, sự ủng hộ của các đối tác Ngân hàng phát triển Châu Á ADB, Ngân hàng Thế giới WB, ASEAN,...

Điều rất vui mừng là sự hưởng ứng rộng rãi của cộng đồng doanh nghiệp với quy mô hơn 2.000 doanh nhân trong nước và quốc tế đăng ký tham dự (đây là quy mô lớn tương đương với Hội nghị Thượng đỉnh kinh doanh APEC năm 2017).

Điều này thể hiện sự hứng khởi kinh doanh, niềm tin của các doanh nhân, nhà đầu tư vào các chính sách đổi mới, cởi mở, thông thoáng của các Chính phủ và các cơ hội kinh doanh thuận lợi đang mở ra trong khu vực GMS, CLV rất giàu tiềm năng phát triển trong bối cảnh Châu Á đang nổi lên là một động lực tăng trưởng của toàn cầu trong thế kỷ 21.

Mekong - Dong song hop tac va phat trien
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc kiểm tra công tác chuẩn bị tại Trung tâm báo chí của Hội nghị Thượng đỉnh GMS 6 và Hội nghị Cấp cao CLV10.

Hợp tác Mekong – thúc đẩy kết nối khu vực

Khu vực Mekong bao gồm 5 quốc gia gắn kết bởi dòng sông Mekong là Việt Nam, Campuchia, Lào, Myanmar và Thái Lan. Từ đầu những năm 1990 đến nay, trong xu thế khu vực hóa và trước nhu cầu đẩy mạnh liên kết kinh tế, hợp tác tại Mekong đã có sự chuyển mình to lớn.

Nếu trong giai đoạn đầu, hợp tác Mekong chỉ tập trung trong nội bộ các nước ven sông thì đến nay mở rộng thêm nhiều cơ chế hợp tác giữa các nước Mekong với các đối tác lớn, trong đó có Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và Hàn Quốc,… đã được thành lập. Sự quan tâm của cộng đồng quốc tế và các đối tác phát triển xuất phát từ vị trí chiến lược cùng tiềm năng phát triển mạnh mẽ của khu vực này.

Chương trình Hợp tác Kinh tế Tiểu vùng Mekong mở rộng (GMS) với sự hỗ trợ của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) là cơ chế đầu tiên được thành lập ở khu vực vào năm 1992 bao gồm năm nước Mekong và Trung Quốc (với hai tỉnh đại diện là Vân Nam và Quảng Tây) có mục tiêu thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác phát triển kinh tế cùng có lợi giữa các nước, đưa khu vực Mekong trở thành vùng phát triển nhanh và thịnh vượng ở Đông Nam Á.

Một số cơ chế hợp tác khác cũng đã được thành lập như Hợp tác khu vực Tam giác Phát triển (TGPT) Campuchia – Lào – Việt Nam (CLV), Hợp tác bốn nước Campuchia – Lào – Myanmar – Việt Nam (CLMV) và Chiến lược hợp tác kinh tế Ayeyawady-Chao Phraya-Mekong (ACMECS) giữa Thái Lan, Myanmar, Campuchia, Lào, Việt Nam, nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển, hỗ trợ các nước Mekong hội nhập hơn vào kinh tế khu vực và tăng cường hợp tác trong ứng phó các thách thức chung.

Trong các cơ chế này, hợp tác CLV được thành lập vào năm 1999 với mục tiêu tăng cường đoàn kết và hợp tác; đảm bảo an ninh, ổn định chính trị; xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội của ba nước Campuchia, Lào, Việt Nam.

Các cơ chế hợp tác Mekong đã có đóng góp hết sức quan trọng đối với sự phát triển của khu vực. Các khuôn khổ hợp tác Mekong, thực chất là cơ chế phối hợp chính sách, là diễn đàn để các nước Mekong củng cố lòng tin, tăng cường đối thoại để cùng nhau xử lý các thách thức chung trên cơ sở hài hoà lợi ích các bên mà nỗ lực riêng lẻ của từng nước hoặc hợp tác song phương không thể giải quyết được.

Bên cạnh đó, các cơ chế hợp tác Mekong, thông qua các chương trình, dự án cụ thể, cũng đóng góp thiết thực cho kết nối khu vực, thúc đẩy tiến trình liên kết kinh tế của các nước Mekong, thu hẹp khoảng cách phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Trong quá trình này, các đối tác phát triển đã đóng vai trò quan trọng. Trong khuôn khổ hợp tác GMS, các quốc gia và các đối tác phát triển đã huy động khoảng 21 tỷ USD cho các dự án phát triển kinh tế - xã hội tại sáu nước thành viên.

Nhật Bản đã hỗ trợ các nước Mekong khoảng 1.100 tỷ yên (khoảng 13 tỷ USD) giai đoạn 2009 – 2015, và đã giải ngân khoảng 2/3 khoản cam kết hỗ trợ 750 tỷ yên (khoảng 6,5 tỷ USD) cho giai đoạn 2016 – 2018.

Hoa Kỳ đã tài trợ 50 triệu USD cho Sáng kiến Hạ nguồn Mekong giai đoạn 2013 – 2015 và cam kết tài trợ 1,25 triệu USD để khởi động Chương trình Đối tác cơ sở hạ tầng bền vững (SIP) giai đoạn 2016-2018.

Ấn Độ đóng góp thường niên 1 triệu USD vào Quỹ Dự án hiệu quả nhanh cho các nước CLMV và tiếp tục dành học bổng cho các nước Mekong. Hàn Quốc cam kết đóng góp mỗi năm 1 triệu USD cho Quỹ hợp tác Mekong – Hàn Quốc và dự kiến sẽ tăng lên 2 triệu USD trong thời gian tới.

Vừa qua, Trung Quốc có kế hoạch sẽ đầu tư khoảng 10 tỷ USD cho tiểu vùng, nhất là các dự án kết nối giao thông tuyến Bắc – Nam. Trung Quốc cũng cam kết đóng góp 300 triệu USD cho Quỹ đặc biệt hợp tác Mekong – Lan Thương cùng nhiều khoản vay ưu đãi và tín dụng bên mua.

Thứ Sáu, 30/03/2018 07:42

Báo Đất Việt trên Facebook
.


Sự Kiện