Nền tảng KH&CN Trung Quốc: Khoảng cách tới thế giới hiện đại

(Khoa học) - Sự trỗi dậy của TQ, với nhiều tham vọng bá quyền, mà trước mắt là tại vùng chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông, là một sự trỗi dậy của KH&CN?

Để phát triển đất nước, cần tới sự phát triển của khoa học và công nghệ (KH&CN), điều này ai cũng biết. Nhưng để một quốc gia trở thành một cường quốc KH&CN cần phải làm gì thì rất ít người biết.

Vậy sự trỗi dậy của một nước Trung Quốc (TQ), với nhiều tham vọng bá quyền, mà trước mắt là tại vùng chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông, là một sự trỗi dậy của KH&CN, hay đơn thuần chỉ là một hiện tượng có tính đặc thù cho một giai đoạn?

Nhìn ngược lại lịch sử phát triển của TQ hiện đại có thể thấy rằng kể từ khi cuộc cách mạng Tân Hợi thành công năm 1911, TQ đã rất cố gắng để phát triển KH&CN theo mô hình kinh điển: xây dựng các trường đại học, các cơ sở giáo dục theo chuẩn chung của thế giới phương Tây và gia tăng sự phổ biến kiến thức khoa học và kỹ thuật.

Quá trình xây dựng này diễn ra chậm chạp và đột ngột bị dừng lại vào năm 1949, khi cuộc cách mạng do ĐCSTQ và Mao Trạch Đông đứng đầu hoàn tất cùng với sự thất bại của Quốc dân đảng. Kể từ thời điểm này sự phát triển KH&CN TQ đột ngột chuyển đổi tốc độ, lúc tăng lúc giảm bất thường.

Ba đặc điểm nổi bật trong sự đổi hướng  

Đầu tiên, đó là sự cố gắng nâng cao trình độ học vấn cho nhân dân với hệ thống nhà trường rất khác biệt với hệ thống đã có. Quá trình đào tạo phổ cập mới này tập trung vào diện rộng, nhất là hỗ trợ cho các tầng lớp dưới, và khoa học tự nhiên và công nghệ, trong khi kiến thức xã hội được giới hạn chủ yếu trong khuôn khổ của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Mao Trạch Đông.

Tư duy phản biện không được đề cao. Nhờ đó, tỷ lệ biết chữ trong dân cư TQ, vốn rất thấp, tăng lên khá  nhanh. Giáo dục đại học cũng được hưởng lợi từ quá trình này và công tác nghiên cứu khoa học được mở rộng. Vị thế của công tác nghiên cứu khoa học được nâng cao và có một uy tín lớn trong dân chúng.

Đại học tại Trung Quốc ngày càng thu hút nhiều sinh viên quốc tế. Ảnh minh họa
Đại học tại Trung Quốc ngày càng thu hút nhiều sinh viên quốc tế. Ảnh minh họa

Tiếp đó, có một nghịch lý lớn là trái với việc hoạt động KH&CN được sùng bái lại có sự hạ thấp vị thế của trí thức trong xã hội, trong tương quan với sự đi lên trong vị thế của giai cấp nông dân và công nhân.

Luận điểm rất căn bản của nho giáo, ‘vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao’ (mọi nghề đều thấp kém cả, duy có đọc sách là cao quý) bị loại bỏ và thay vào đó là luận điểm người cán bộ phải vừa hồng vừa chuyên và một nhận định nổi tiếng của Mao Trạch Đông ‘trí thức không bằng cục phân’ khi bàn về sự dấn thân của trí thức trong hành động đưa đến sự biến đổi xã hội.

Điều này dẫn đến những sự xáo động lớn trong việc định vị các tầng lớp xã hội, và sự đánh giá về những đóng góp của trí thức cho công cuộc phát triển là không rõ ràng, và nhiều khi là không có tính khích lệ, nếu không phải là nghi kỵ.

Cuối cùng, không có sự dẫn dắt của thị trường trong sự phát triển KH&CN. Tất cả nền kinh tế TQ được hoạch định một cách có kế hoạch theo những định hướng được xác định từ cấp cao nhất, KH&CN cũng không phải là ngoại lệ.

Còn lại rất ít khoảng trống cho sự lựa chọn các đề tài và hướng nghiên cứu theo sự nhìn nhận của bản thân những nhà khoa học giỏi. Thiếu định hướng thị trường, các hoạt động khoa học thiếu động lực dẫn dắt, trong khi hoạt động công nghệ lại không tập trung vào đáp ứng các nhu cầu đời sống.

KH&CN, do vậy, càng ngày càng xa rời với những đòi hỏi của cuộc sống và dần trở thành một hoạt động lạc lõng, xa lạ.

Trong khi đó, nửa cuối thế kỷ 20 chứng kiến sự phát triển như vũ bão của KH&CN. Đứng trước sự tụt hậu của mình, vào cuối thập kỷ 70 của thế kỷ trước, TQ đã triển khai chương trình bốn hiện đại hoá đầy tham vọng, trong đó hiện đại hóa KH&CN là một cấu thành của chương trình.

Và để có thể tiếp cận nhanh nhất với nước Mỹ, trung tâm của các phát kiến KH&CN hiện đại, TQ đã không ngần ngại phát động cuộc chiến tranh biên giới với Việt Nam tháng 2 năm 1979 nhằm ‘dạy cho Việt Nam một bài học’, ngõ hầu làm quà sơ kiến để tiếp cận toàn diện với nước Mỹ, quốc gia vốn bị họ liệt vào hàng kẻ thù không đợi trời chung.

KH&CN Trung Quốc và những rào cản

Năm tháng qua đi, nay TQ đã có một nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và thậm chí có thể đã vượt Mỹ về tổng thu nhập quốc dân. KH&CN của họ cũng đã có những bước tiến nhảy vọt: cao thì đã phóng được tàu vũ trụ có người lái, thường ngày thì cũng đã tự làm được cái đài, cái tủ lạnh.., những cái có hàm lượng KH&CN nhất định.

Có điều, vẫn chưa mấy ai công nhận TQ là nước có nền KH&CN hiện đại, mà vẫn chỉ coi là nước thuộc hạng có KH&CN phát triển thôi. Khác hẳn với trường hợp Hàn Quốc, nước nhỏ, dân không đông, mới vừa phát triển, nhưng đã lọt vào nhóm nước có nền KH&CN hiện đại.

Xem ra vẫn còn quá nhiều rào cản để TQ có được một nền KH&CN hiện đại, tức là có được những phát kiến khoa học để thay đổi cách nhìn hay nâng cao nhận thức của loài người về thế giới xung quanh và có những phát minh công nghệ làm thay đổi lối sống con người. Trong trường hợp TQ có mấy thứ rào cản rất đáng để chúng ta suy ngẫm.

Tự do tư tưởng là cái đáng được quan tâm nhất ở đây. Đặc điểm của nghiên cứu khoa học và sáng tạo công nghệ là hoạt động đi vào miền vô định, miền chưa biết. Để đi được, cái cần có ở đây là quyền của nhà khoa học được suy nghĩ và làm cái điều họ tin là sẽ mang lại kết quả.

Nhất là khi trong khoa học lại không có nguyên tắc đa số đúng hơn thiểu số, mà nhiều khi lại ngược lại, như khi tất cả mọi người tin vào mọi thứ tuyệt đối, thì Einstein lại đề ra thuyết tương đối.

Và Einstein đúng chứ không phải chúng ta, đa số những người thường, đúng. Nhưng tự do tư tưởng lại là cái gì đó không mấy có trong các cơ quan khoa học và các trường đại học TQ. Vì thế các nhà khoa học sáng giá không mấy ai muốn trở về, hay ở lại nước nhà, chính vì lý do này.

Trong khi đó, tổ chức xã hội của TQ không mấy đề cao nhà khoa học. Cũng như hàng nghìn năm phong kiến trước kia, TQ hiện đại vẫn chỉ đề cao việc đi làm quan. Mà làm quan tức là làm quản lý và chính trị, những hoạt động vốn khác về bản chất với hoạt động khoa học đòi hỏi sự cân nhắc lâu và thông tin nhiều.

Lợi ích do việc đi làm quan mang lại cũng nhiều hơn nhiều lần so với làm khoa học. Nên dễ thấy ở TQ những người giàu là những người xuất thân từ đất đai, những lợi ích liên quan nhiều tới quan trường, trong khi ở Mỹ những người giàu chủ yếu liên quan đến các phát minh khoa học.

Vậy thì có gì hay để đi làm KH&CN ở TQ? Tổng công trình sư chế tạo tàu vũ trụ đưa người vào không gian của TQ chẳng đã đi tù vì sử dụng trái phép đâu đó hơn 10 triệu đô la đó thôi!

Còn tính nhân bản của nền KH&CN này thì cứ xét lịch sử phát triển KH&CN vừa qua của TQ thì đủ rõ. Lợi ích của con người thường không phải là yếu tố hàng đầu cần suy xét khi triển khai các nghiên cứu.

Nạn đói xảy ra làm hàng chục triệu người chết hồi cuối những năm 50 thế kỷ trước là minh chứng. Nạn đói lịch sử đó có là gì khác khi nhân danh khoa học người ta can thiệp vào tự nhiên bằng các chiến dịch ‘bắt chim sẻ’ vì nghĩ rằng chúng hại mùa màng, hay nắn dòng chảy tự nhiên các dòng sông vì các đường hướng chính trị cho rằng cần phải thế!

Và việc có quá nhiều hàng hoá TQ ngày nay có hại cho sức khoẻ con người lại là một minh chứng khác về cái sự thiếu tính nhân bản đó.

Kết cục là cường quốc kinh tế TQ hiện nay vẫn chưa có được nhà khoa học nào nhận giải thưởng Nobel, còn những nhà khoa học TQ được giải Nobel thì đều đang sống ở nước ngoài: họ được đào tạo ở nước ngoài, hoặc nếu được đào tạo trong nước thì cũng là từ nền giáo dục trước năm 1949.

Như vậy, có thể thấy KH&CN của TQ đang có sự phát triển rất nhanh nhờ vào một nguồn nhân lực to lớn được đào tạo bài bản từ phương Tây, và phần nào trong nước, kể từ khi cải cách, cùng những khoản đầu tư lớn lao từ một nền kinh tế đang đứng thứ hai thế giới.

Có điều, nền KH&CN đó đang rất thiếu vắng những giải thưởng quốc tế, những ghi nhận sự đóng góp của nó vào nền kiến thức chung của nhân loại. Nền KH&CN đó cũng chưa có các phát minh ra công nghệ nguồn, bằng chứng của một nền kinh tế đã phát triển. Và, nhất là,  nền khoa học đó có lẽ cũng không mang nhiều tính nhân bản, cái tối cần cho sự tồn tại của nhân loại.

Nên hiện tượng người TQ đang đi nhanh, đơn giản là vì do đi sau nên họ có thể thấy được, và rút kinh nghiệm được từ những định hướng và kết quả của các nền khoa học tiên tiến hơn.

Và nếu cứ như thế thì cũng đơn giản không kém là công cuộc tiến vào KH&CN của họ sẽ mau chóng đạt tới các giới hạn. Nên họ sẽ vẫn xa với các nền KH&CN hiện đại. Và phải chăng ở đây đang xuất hiện các cơ may cho KH&CN Việt Nam, nếu như chúng ta đi đường khác với họ? Mà từ phát triển KH&CN đến phát triển kinh tế cũng chẳng xa xôi gì.

Khoa học công nghệ Trung Quốc dưới góc nhìn của Mỹ

 Phạm Bích San

Thứ Ba, 10/06/2014 14:38

Sự Kiện