Dự án thép nghìn tỷ Thái Nguyên: Lo thiết bị Trung Quốc

(Doanh nghiệp) - Dự án mở rộng Gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2 dùng công nghệ hiện đại nhưng thiết bị Trung Quốc nên độ bền, tính ổn định không cao.

Đó là thông tin được PGS.TS Nguyễn Sơn Lâm, Bộ môn kỹ thuật Gang thép, khoa Khoa học và Công nghệ Vật liệu, Viện Khoa học và kỹ thuật vật liệu (Đại học Bách khoa Hà Nội) cho biết.

Công nghệ hiện đại nhưng dùng thiết bị Trung Quốc

Nói về công nghệ sản xuất thép của Nhà máy Gang thép Thái Nguyên, PGS.TS Nguyễn Sơn Lâm cho biết, có 2 con đường chính để tạo ra phôi thép.

Thứ nhất, công nghệ truyền thống sử dụng lò cao luyện gang - luyện thép lò thổi - tinh luyện ngoài lò- đúc liên tục - phôi thép.

Thứ hai, công nghệ ngắn luyện thép phế - luyện thép lò điện - tinh luyện - đúc liên tục.

Du an thep nghin ty Thai Nguyen: Lo thiet bi Trung Quoc
Dự án nhà máy gang thép Thái Nguyên bị bỏ dở dang trong nhiều năm qua. Ảnh: Tuổi trẻ

Được khởi công xây dựng từ năm 1959, Nhà máy Gang thép Thái Nguyên trải qua nhiều thăng trầm. Trong giai đoạn 1, thời điểm nhà máy đi vào hoạt động chưa có đúc liên tục, đúc phôi mà chỉ có đúc thổi rồi đưa sang cán, do đó nhà máy công nghệ lò cao để luyện gang. Nhà máy có 2 lò Mactanh công suất 50 tấn/mẻ thép, tuy nhiên, mới chạy được lò số 1 được một thời gian ngắn thì chiến tranh phá hoại xảy ra, vận hành bị trục trặc.

Đáng lưu ý, do nguồn than mỡ để sản xuất cốc ở Việt Nam rất ít nên chúng ta chủ yếu phải nhập của Trung Quốc. Năm 1979, nguồn cung tạm thời bị gián đoạn, dây chuyền nhà máy hoạt động cầm chừng.

Đến trước những năm đổi mới, công nghệ lò Mactanh hầu như không được thế giới sử dụng nữa và đến đầu những năm 1990, công nghệ này gần như cáo chung. Lúc này, Nhà máy Gang thép Thái Nguyên bắt đầu chuyển sang luyện thép lò điện, nấu trực tiếp ra thép rồi đúc ra phôi. Sau đó đến thời kỳ đổi mới, xuất hiện công nghệ đúc liên tục, Việt Nam nhập thiết bị đúc liên tục của Ấn Độ.

Năm 2000, với sự hỗ trợ của Chính phủ Trung Quốc, dự án cải tạo kỹ thuật Gang thép Thái Nguyên được tiến hành. Nhà máy đầu tư lò thiêu công suất, lò tinh luyện thép LF, đồng thời cải tạo lò cao luyện gang, nâng công suất từ 100m3 lên 120m3. Những thiết bị này vẫn được sử dụng đến ngày hôm nay.

Đánh giá về chất lượng sản phẩm của Nhà máy Gang thép Thái Nguyên giai đoạn 1, PGS.TS Nguyễn Sơn Lâm cho biết: "Trước đây, Việt Nam sử dụng thép Liên Xô chất lượng cao, nhưng sau khi Liên Xô tan rã, đối với Việt Nam, thép Thái Nguyên là thép có chất lượng và có truyền thống. Đặc biệt, sau khi nhà máy hoàn thành dự án cải tạo kỹ thuật giai đoạn 1 vào những năm 2000-2002, việc đầu tư thiết bị giúp sản phẩm của nhà máy làm ra có chất lượng tốt.

Thông tin các công trình lớn không dám sử dụng thép Thái Nguyên vì chất lượng không đảm bảo là không chính xác. Trong khi các công trình nhà dân thường sử dụng thép Đa Hội của Bắc Ninh (thép làng nghề), thì thép Thái nguyên vẫn sử dụng được cho các công trình lớn, nhà cao tầng bình thường, chất lượng đảm bảo. Hiện nay Nhà máy Gang thép Thái nguyên làm được cả thép chống lò ở Quảng Ninh , một trong những loại thép khó làm".

Năm 2002, sau khi thực hiện dự án cải tạo kỹ thuật giai đoạn 1 hoàn thành và sản xuất có hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép đầu tư dự án mở rộng sản xuất giai đoạn 2.  Dự án Đầu tư mở rộng Nhà máy Gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2 bắt đầu được khởi công từ năm 2007 nhưng do suy thoái kinh tế năm 2008- 2009 dự án đã phải dừng gần 3 năm, cuối năm 2009 mới khởi công trở lại.  

Dự án gồm nhiều hạng mục như: băng chuyền thiêu kết 100 m2, lò cao luyện gang 550m3, lò thổi luyện thép 50 tấn/mẻ, lò tinh luyện thép LF 55 tấn/mẻ, lò trộn nước gang 600 tấn/mẻ,… bảo đảm năng lực sản xuất 500 nghìn tấn phôi thép/năm.

PGS.TS Nguyễn Sơn Lâm khẳng định, công nghệ mà Nhà máy Gang thép Thái Nguyên lựa chọn cho dự án đầu tư mở rộng giai đoạn 2 là công nghệ mới, truyền thống mà hiện đại. Tuy nhiên, dự án sử dụng thiết bị của Trung Quốc, tiêu chuẩn không cao như thiết bị của châu Âu dẫn tới tính ổn định, độ bền không tốt.

"Thiết bị Trung Quốc vẫn cho ra sản phẩm thép chất lượng bình thường nhưng so với thiết bị châu Âu có giá gấp 2-3 lần, độ bền, tuổi thọ cũng như khả năng tự động hóa của thiết bị cũng như sản phẩm không tốt. Với thiết bị châu Âu, người lao động cũng vận hành đơn giản, nhẹ nhàng hơn", ông Lâm cho biết.

Thứ Ba, 21/06/2016 07:18

Sự Kiện