Hỗ trợ Covid-19: Chỉ có 22,25% doanh nghiệp nhận được hỗ trợ

(Doanh nghiệp) - Đây là kết quả điều tra 380 doanh nghiệp tại Hà Nội, TP.HCM và Thanh Hóa do Đại học Kinh tế Quốc dân và JICA phối hợp thực hiện.

Năm 2020 với biến cố bất ngờ là sự bùng phát đại dịch Covid-19 trên toàn cầu, đã ảnh hưởng rất nặng nề đến tăng trưởng kinh tế đất nước và hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp.

Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm hỗ trợ nền kinh tế và doanh nghiệp vượt qua khủng hoảng do dịch bệnh, trong đó bao gồm các gói hỗ trợ về tài khóa, tín dụng, gói hỗ trợ an sinh xã hội…

Theo Báo cáo "Đánh giá các chính sách ứng phó với Covid-19 và các khuyến nghị" vừa được trường Đại học Kinh tế Quốc dân phối hợp với Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản tại Việt Nam (JICA) công bố, đối với các doanh nghiệp được điều tra thì chỉ có 22,25% doanh nghiệp nhận được hỗ trợ.

Trong các lý do doanh nghiệp không nhận được các hỗ trợ thì có tới 54,67% các doanh nghiệp cho rằng các doanh nghiệp không đáp ứng được điều kiện để nhận được hỗ trợ; có tới 25,95% doanh nghiệp không biết đến các chính sách hỗ trợ, có 14,88% doanh nghiệp cho rằng quy trình, thủ tục hỗ trợ còn quá phức tạp nên các doanh nghiệp không muốn tiếp cận các hỗ trợ.

Tỷ lệ các doanh nghiệp có quy mô lớn nhận được hỗ trợ từ Chính phủ là lớn hơn nhiều so với các doanh nghiệp có quy mô vừa, nhỏ và siêu nhỏ. Tuy nhiên lý do không nhận được hỗ trợ của các doanh nghiệp lớn chủ yếu đến từ việc không đáp ứng được điều kiện nhận hỗ trợ (68,97%) chứ không phải do không có thông tin về chính sách.

Đối với các chính sách được hỗ trợ thì chính sách liên quan đến Gia hạn nộp thuế (thuế VAT, thuế TNDN) có tỷ lệ cao nhất (69,88%), tiếp đến là gia hạn tiền thuế đất và chính sách không thực hiện điều chỉnh tăng giá các yếu tố đầu vào trong sản xuất (điện, nước, xăng,…) đều chiếm tỷ lệ 18,07%...

Đánh giá về tác động của các chính sách hỗ trợ, các doanh nghiệp đều nhận định tích cực, đặc biệt là các chính sách: Miễn, giảm phí dịch vụ thanh toán điện tử; vay không cần tài sản thế chấp; giảm tiền thuê đất...  Tuy nhiên một số số chính sách khác các doanh nghiệp cho rằng các chính sách có tác động không đáng kể, đặc biệt là chính sách Hỗ trợ chi phí logistics hàng hải, hàng không, đường bộ, đường thủy nội địa, đường sắt…; hay chính sách Cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xét duyệt hồ sơ vay vốn,…

Ho tro Covid-19: Chi co 22,25% doanh nghiep nhan duoc ho tro

Theo nhóm nghiên cứu, còn nhiều chính sách hỗ trợ hiệu quả thực thi chưa cao. Đơn cử như chính sách giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) năm 2020 cho các doanh nghiệp, hợp tác xác và tổ chức khác có tổng doanh thu không quá 200 tỷ đồng.

Báo cáo chỉ rõ, đối tượng thụ hưởng của chính sách miễn giảm thuế TNDN là những doanh nghiệp làm ăn có lãi, tức là các doanh nghiệp đang hưởng lợi hoặc ít chịu ảnh hưởng chứ không phỉa là những doanh nghiệp đang gặp khó khăn thực sự do đại dịch Covid-19.

Do vậy, việc ưu đãi thuế TNDN chưa thực sự hướng đến các doanh nghiệp gặp khó khăn do đại dịch, vì vậy là một phương thức hỗ trợ chưa phù hợp, làm lãng phí nguồn lực đang rất hạn hẹp hiện nay, đồng thời tạo ra sự bất bình đẳng trong cộng đồng doanh nghiệp, và có thể khiến môi trường kinh doanh xấu đi.

Hay với việc triển khai gói hỗ trợ an sinh xã hội 62.000 tỷ đồng dành cho người lao động bị giãn, hoãn hoặc mất việc do ảnh hưởng của đại dịch, theo khảo sát của nhóm nghiên cứu,  tính đến giữa tháng 8/2020, gói này mới chỉ hỗ trợ được khoảng 16 triệu người, với tổng số tiền giải ngân chỉ đạt hơn 17.000 tỷ đồng (xấp xỉ 19%).

Đặc biệt, những người được hỗ trợ đa phần là nhóm lao động có bảo hiểm, lao động là người có công, hộ nghèo. Trong khi đó, lao động chịu tác động mạnh nhất là người lao động tự do, lao động yếu thế thuộc khối phi chính thức lại không tiếp cận được gói hỗ trợ này. Việc thực thi các chính sách hỗ trợ trực tiếp gặp rào cản lớn do chưa có cơ sở dữ liệu để quản lý thông tin về người được hưởng hỗ trợ, dẫn đến thủ tục đăng ký nhận hỗ trợ được thiết kế quá phức tạp, gây bất tiện cho người dân.

Số lượng đối tượng thụ hưởng của chính sách hỗ trợ người lao động còn ít. Cụ thể, số người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không lương tại doanh nghiệp được nhận hỗ trợ là khoảng 15.909 người trong khi dự kiến ban đầu là 01 triệu người.

Bên cạnh đó, theo báo cáo của Ngân hàng Chính sách xã hội và trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia, tới thời điểm này chưa có hồ sơ nào được giải ngân đối với các khoản vay của doanh nghiệp để trả lương cho người lao động bị ngừng việc trong khi dự kiến số tiền cho vay ban đầu là 16.000 tỷ đồng với tổng số lao động được hỗ trợ 3 triệu lao động.

Ngoài ra, số lượng hộ kinh doanh cá thể có doanh thu khai thuế dưới 100 triệu đồng/năm chịu ảnh hưởng của đại dịch do Ủy ban nhân dân cấp xã gửi Chi cục Thuế đề nghị thẩm định để nhận hỗ trợ chỉ là 30.964 hộ trong khi dự kiến ban đầu là 760.000 hộ.

Khuyến nghị

Từ những kết quả nghiên cứu, báo cáo đã đưa ra một số khuyến nghị để các chính sách hỗ trợ hiệu quả hơn.

Cụ thể, theo báo cáo, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cần tiếp tục được thực hiện theo hướng tập trung hơn, đúng đối tượng và theo sát nhu cầu của doanh nghiệp. Cần có chọn lọc, phân loại ngành nghề để hỗ trợ, trên cơ sở đánh giá, khảo sát nhanh tác động của dịch Covid-19 đến ngành, nghề cụ thể và có điều kiện, tiêu chí.

Theo đó, những ngành nghề chịu tác động tiêu cực theo thứ tự giảm dần, là: du lịch; vận tải; dệt may, da giày; bán lẻ; giáo dục – đào tạo. Trong khi đó một số ngành vẫn có cơ hội phát triển tốt: công nghệ thông tin, thương mại điện tử…

Cần tránh hiện tượng trục lợi chính sách hỗ trợ và rủi ro đạo đức. Về điều kiện/ tiêu chí doanh nghiệp nhận hỗ trợ; Chính phủ có thể căn cứ vào một số tiêu chí chủ yếu như : tính lan tỏa (tác động tích cực tới các ngành, lĩnh vực khác); lao động (tạo nhiều công ăn việc làm); có khả năng phục hồi sau đại dịch.

Đối với chính sách thuế, báo cáo cho rằng, cần cho phép kéo dài thời gian giãn, hoãn thuế, tiền thuê đất và bổ sung bổ sung đối tượng gia hạn (trước mắt là hết năm 2020 hoặc hết quý 2/2021) để doanh nghiệp đỡ khó khăn về thanh toán chi phí.

Nên xem xét hỗ trợ giảm thuế GTGT cho doanh nghiệp, tập trung cho các dịch vụ như lưu trú khách sạn, du lịch, vận chuyển, chuyên chở trang thiết bị phục vụ phòng chống dịch… Xem xét hoàn ngay thuế GTGT đầu vào cho doanh nghiệp xuất khẩu trong 3 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Với dự án đầu tư thuộc diện kiểm tra trước hoàn thuế sau, rút ngắn thời gian xét hoàn từ 40 ngày xuống 20 ngày.

Cần xem lại chính sách giảm thuế TNDN vì đa phần (chiếm 98% số lượng doanh nghiệp) các doanh nghiệp đang gặp khó khăn hoặc đứng trước nguy cơ phá sản là do gánh nặng chi phí mà hỗ trợ giảm thuế thu nhập doanh nghiệp là không phù hợp với họ. Chỉ có 2% doanh nghiệp tạm thời chưa bị ảnh hưởng bởi Covid-19 là được hưởng lợi từ chính sách này.

Đối với gói tín dụng, báo cáo đề nghị, cần sớm sửa đổi Thông tư 01 theo hướng mở rộng đối tượng hỗ trợ và kéo dài thời gian cơ cấu lại nhóm nợ đến cuối năm 2021. Nếu không chắc chắn nợ xấu sẽ tăng đột biến và gây cú sốc cho hệ thống ngân hàng.

Trong quá trình thực thi chính sách, các chính sách hỗ trợ cần rõ ràng và minh bạch về thủ tục cũng như đối tượng được hưởng các gói chính sách. Cần giảm thiểu những phiền hà về thủ  tục và quy trình tiếp cận các gói hỗ trợ, đặc biệt là thủ tục chứng minh về tài chính.

Ngoài ra, cần lưu ý một số rủi ro sau: rủi ro thể chế làm chậm tiến độ bơm tiền kích thích tiêu dùng và đầu tư; rủi ro tham nhũng và sợ trách nhiệm có thể làm giảm hiệu lực và hiệu quả của gói kích thích; rủi ro chệch mục tiêu, các chính sách hỗ trợ cần hướng vào đúng và trúng đối tượng.

Bên cạnh những giải pháp ngắn hạn mang tính ứng phó với Covid-19, báo cáo cho rằng, Chính phủ cần thực hiện các giải pháp mang tính dài hạn để chuẩn bị những điều kiện cơ bản cho phát triển bền vững sau đại dịch.

Thứ nhất, đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng dựa vào công nghệ - đổi mới sáng tạo, có tư duy chấp nhận rủi ro và khuyến khích tinh thần khởi nghiệp.

Thứ hai, tận dụng và khai thác lợi thế của người đi sau, tăng cường sử dụng công nghệ cao thông qua trực tiếp nhập khẩu, mua bán bản quyền, thuê bao sản phẩm từ nước ngoài; chuyển giao công nghệ từ FDI.

Thứ ba, hoàn thiện thể chế; xây dựng nhà nước kiến tạo, phát triển, liêm chính; tôn trọng và bảo vệ sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế…

Thứ tư, phát triển khu vực tư nhân đổi mới, năng động, sáng tạo; đảm bảo thể chế kinh doanh bình đẳng cho doanh nghiệp tư nhân; bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, thực hiện liên kết với doanh nghiệp FDI.

Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao thông qua cải cách toàn diện hệ thống giáo dục, đổi mới chương trình đào tạo…

Thành Luân

Thứ Ba, 19/01/2021 07:42

Sự Kiện