Nợ công Việt Nam đang giảm dần như thế nào?

(Doanh nghiệp) - Nhìn thẳng vào sự thật, Việt Nam sẽ có thêm động lực để tự giải thoát khỏi gánh nợ nần.

Chắc hẳn nhiều người sẽ phải vắt tay ngang trán mà suy nghĩ không nguôi khi tiếp cận những thông tin trong báo cáo thẩm tra về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2018, dự toán và phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2019 trình bày trước Quốc hội ngày 22/10 vừa qua.

Niềm vui tỷ lệ nợ công/GDP có xu hướng giảm dần: năm 2017 là 62,6% GDP; năm 2018 là 61,4% GDP và dự kiến năm 2019 là 61,3% GDP xem ra chỉ là… vui một nửa.

Đơn giản bởi vì một lý trí lành mạnh không cần quá thạo thuộc các thuật toán cũng hiểu, xu hướng nói trên chỉ ở mức tương đối. Khi quy mô nền kinh tế lớn hơn, GDP neo ở giá trị cao hơn, tỷ lệ nợ công/GDP đương nhiên giảm xuống tương ứng.

Đó là chưa kể báo cáo Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng vốn vay ODA, ưu đãi nước ngoài 2018 - 2020, tầm nhìn 2025 mới đây khẳng định, nợ công trên đầu người Việt Nam năm 2018 vào khoảng hơn 35 triệu đồng, tăng gần 4 triệu đồng mỗi người so với năm 2017 (mức 31,3 triệu đồng). Con số này sẽ tiếp tục tăng trong hai năm 2019-2020 khi mức tương ứng là hơn 3,9 triệu tỷ đồng và gần 4,3 triệu tỷ đồng. Dường như, thành tích đã có, nhưng chưa thể khiến dư luận an lòng.

No cong Viet Nam dang giam dan nhu the nao?
Dự án thua lỗ làm tăng gánh nợ công. Ảnh minh họa

Nỗi băn khoăn càng lớn thêm khi cũng theo báo cáo của Ủy ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội, nợ chính phủ và nợ nước ngoài của quốc gia lại có xu hướng tăng lên. Cụ thể, nợ Chính phủ năm 2017 là 51,8% GDP; năm 2018 là 52,1% GDP; năm 2019 dự kiến là 52,2% GDP. Về nợ nước ngoài của quốc gia, năm 2017 là 45,2% GDP; năm 2018 là 49,7% GDP và dự kiến năm 2019 là 49,9% GDP, sát trần cho phép là 50% GDP.

Cần phải nhắc lại rằng, trong hai năm 2018 và 2019, mức tăng trưởng GDP đã và có thể tiếp tục duy trì kỳ tích. Nghĩa là, tỷ lệ nói trên có thể vẫn chưa phản ánh đúng sự thật.

So sánh tương quan giữa nợ công và nợ chính phủ, lại xuất hiện thêm nhiều điều khó hiểu. Chiếu theo định nghĩa tại Luật Quản lý nợ công, nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ chính quyền địa phương; Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ.

Khi nợ công và nợ chính phủ có diễn biến trái chiều nhau, có thể ước đoán, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương có xu hướng giảm rõ rệt hơn do việc cổ phần hóa và chủ trương kiểm soát nợ của các địa phương.

Nỗ lực cắt giảm chi thường xuyên cũng chỉ đạt được kết quả tương đối khiêm tốn khi trong giai đoạn 2016 - 2020 chi thường xuyên giảm từ 66,8% xuống còn 63%. Chưa kể, với những công trình như nhà hát gần 800 tỷ đồng ở Vĩnh Phúc có số đêm sáng đèn chưa quá hai bàn tay hay ý định xây nhà hát Thủ Thiêm 1.500 tỷ đồng dù nhà hát đang có với chức năng na ná chỉ có 40 buổi diễn/năm… kỳ vọng một sự cắt giảm như mong đợi khó thành hiện thực. Về chi đầu tư, dù khoản chi này tăng từ 17% năm 2015 lên 27 - 28% trong giai đoạn 2016 – 2020, bài học nhãn tiền từ các đại dự án thua lỗ ngành công thương khiến chúng ta khó ấp ủ nhiều hi vọng tiền đẻ ra tiền.

Về nỗ lực giảm bội chi ngân sách thì bội chi ngân sách năm 2017 vẫn ở mức hơn 115 nghìn tỷ đồng. Đáng nói, trong kế hoạch vay nợ năm 2017, chúng ta phải vay để bù đắp bội chi là 172.300 tỷ đồng, vượt quá cả mức bội chi. Tương tự, năm 2018, bội chi dự tính vẫn ở mức 3,67% GDP, tương đương hơn 110 ngàn tỷ đồng và mức vay để bù đắp bội chi là 195 ngàn tỷ đồng. Có thể thấy, khi Việt Nam đã phải vay để đảo nợ, trả nợ và trả lãi, chúng ta vẫn tiếp tục vay để chi tiêu.

Ở đây còn xuất hiện nghịch lý kép bởi kế hoạch vay bù bội chi còn cao hơn cả mức bội chi ước đạt. Sẽ rất khó phản bác những lời chê trách rằng, Việt Nam chưa giàu nhưng vẫn bạo chi.

Thứ Ba, 06/11/2018 13:29

Sự Kiện