Ngân hàng xiết nợ DNNN: Tự mình xiết nợ mình, khó lắm

(Tài chính) - Nếu việc chỉ định cho vay trên không tuân theo các quy tắc bắt buộc thì đây chính là một dạng của lợi ích nhóm

Chuyên gia kinh tế, TS Nguyễn Trí Hiếu lo ngại trước quy định mới trong việc cho phép các ngân hàng tự chủ hoạt động xiết nợ DNNN.

Ngan hang xiet no DNNN: Tu minh xiet no minh, kho lam
Nhiều ngân hàng phải nghĩ ra các “quái chiêu” vô tiền khoáng hậu để thu hồi nợ.

PV:- Thưa ông, Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020” đã đưa ra các giải pháp xử lý đối với các khoản nợ xấu của DNNN.

Trong đó có quy định, trường hợp DNNN kinh doanh lỗ vốn, không thể trả được nợ ngân hàng thì việc ngân hàng thực hiện thu nợ/xiết nợ sẽ thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật hiện hành, trong đó có các giải pháp xử lý tài sản bảo đảm thu hồi nợ, chuyển nợ thành vốn góp, bổ sung nguồn vốn để có nguồn trả nợ TCTD, phá sản doanh nghiệp… như Đề án 1058 đã nêu.

Hoạt động thu nợ/xiết nợ sẽ do DNNN, tổ chức tín dụng (trong đó có ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam) tự chủ thực hiện và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ông bình luận sao về quy định trên?

TS Nguyễn Trí Hiếu:- Nhìn về mặt nguyên tắc, quy định trên là hoàn toàn phù hợp. Theo nguyên tắc, những doanh nghiệp vay nợ nhưng không trả được nợ, ngân hàng có quyền thu giữ tài sản, phát mãi để thu hồi vốn, cấn trừ nợ. Đây là quy định đã có từ lâu và các ngân hàng lâu nay vẫn thực hiện như vậy.

PV:- Tuy nhiên, Đề án cũng quy định với các khoản vay của DNNN, trong khi đó, đa số những khoản vay của DNNN đều được chỉ định vay, trong trường hợp không có tài sản bảo đảm thì phải xử lý thế nào? Việc xiết nợ có dễ dàng không, thưa ông?

TS Nguyễn Trí Hiếu:- Đúng, đây chính là vấn đề về kỹ thuật, rất cần phải bàn. Về nguyên tắc khi ngân hàng bị chỉ định hay không được chỉ định cho DNNN vay đều phải thực hiện các nguyên tắc đánh giá năng lực tài chính một cách chính xác, trong trường hợp năng lực của doanh nghiệp hạn chế thì phải thực hiện thẩm định giá trị tài sản thế chấp rất cẩn thận, chắc chắn. Đây là một trong những giải pháp hiệu quả góp phần hạn chế nợ xấu cho ngân hàng. Như vậy, trong trường hợp doanh nghiệp bị mất khả năng trả nợ, ngân hàng vẫn có thể được miễn trừ trách nhiệm nếu thu hồi, xử lý được tài sản bảo đảm đề cấn trừ khoản nợ cho vay.

Tuy nhiên, trong trường hợp DNNN được chỉ định vay nhưng lại không có tài sản bảo đảm mà vẫn được ngân hàng cho vay thì khi xảy ra rủi ro ngân hàng phải tự chịu trách nhiệm về khoản vay đó.

Họ đã không thực hiện các nguyên tắc trong thẩm định giá trị tài sản thế chấp hoặc việc định giá còn mang tính nội bộ ngân hàng, hay còn mang tính nể nang..., mà cho vay bừa bãi, gây ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng thì đó là trách nhiệm của ngân hàng và họ phải tự chịu trách nhiệm cho việc đó.

PV:- Hiện các ngân hàng cho DNNN vay nhiều lại chính là các ngân hàng mà Nhà nước nắm cổ phần chi phối như vậy, hoạt động xiết nợ nếu thực hiện phải được thực hiện thế nào để đảm bảo nguyên tắc: Thu hồi tối đa nợ của Nhà nước mà không xảy ra móc ngoặc xuê xoa, che giấu sự hoạt động yếu kém hoặc không đúng nguyên tắc của ngân hàng, thưa ông?

TS Nguyễn Trí Hiếu:- Trường hợp này có thể hiểu như sau: Nhà nước nắm cổ phần chi phối của các ngân hàng rồi lại chỉ định các ngân hàng đó cho các doanh nghiệp do chính mình quản lý vay vốn. Tức là Nhà nước đang dùng chính quyền lực cao nhất của một cổ đông chi phối tại ngân hàng để yêu cầu ngân hàng cấp vốn cho doanh nghiệp do mình quản lý nhằm mục đích đầu tư, phát triển hoặc có thể vì những mục đích khác nữa.

Như vậy, trong trường hợp này, nếu các quy tắc cho vay giữa ngân hàng và DNNN vẫn được thực hiện theo đúng quy định pháp luật, mọi tiêu chí, tiêu chuẩn đều được kiểm soát nghiêm ngặt theo luật "có vay, có trả, có người chịu trách nhiệm" thì việc chỉ định trên có thể chấp nhận được. Ngược lại, nếu việc chỉ định cho vay trên không tuân theo các quy tắc bắt buộc thì đây chính là một dạng của lợi ích nhóm. Nói nôm na, đây chính là tự mình đi xiết nợ mình, việc này rất khó làm. Trong trường hợp này, nếu xảy ra rủi ro, DNNN mất khả năng thanh toán, Chính phủ sẽ phải là người đứng ra chịu trách nhiệm.

Vậy phải thu hồi nợ đối với những trường hợp này như thế nào để đảm bảo có thể thu hồi tối đa được nợ của Nhà nước mà không xảy ra móc ngoặc xuê xoa, che giấu sự hoạt động yếu kém hoặc không đúng nguyên tắc của ngân hàng?

Để thu hồi được nợ, các ngân hàng phải thực hiện tất cả các biện pháp nhằm thu hồi nợ theo thông lệ. Trước hết là, nhanh chóng phong tỏa, kiểm soát tất cả các dòng tiền, thu nhập đổ về doanh nghiệp thông qua kiểm soát các tài khoản của doanh nghiệp tại ngân hàng để cấn trừ nợ.

Hai là, nhanh chóng phong tỏa, thu hồi toàn bộ những tài sản có giá trị, có khả năng thanh lý để trừ nợ.

Ba là, ngân hàng có quyền yêu cầu các cơ quan, ban ngành đại diện cho Chính phủ quản lý DNNN cùng phối hợp yêu cầu doanh nghiệp thanh toán nợ.

Trong trường hợp cuối cùng, nếu ngân hàng không kiểm soát được các dòng tiền, không thu hồi được tài sản bảo đảm, không đòi được nợ... thì ngân hàng có thể kiện cơ quan quản lý từ cấp trung ương tới địa phương, thậm chí có thể kiện Chính phủ nếu có yêu cầu, chỉ định ngân hàng cho doanh nghiệp đó vay.

Về mặt pháp luật, ngân hàng hoàn toàn có quyền được làm việc này, tuy nhiên, trong lịch sử chưa từng được chứng kiến một ngân hàng cụ thể nào đi kiện Chính phủ vì yêu cầu chỉ định cho vay. 

Thứ Hai, 22/01/2018 07:24

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện