Chi 19.000 tỷ đồng đào than/năm: Than rẻ sao không nhập?

(Thị trường) - Trữ lượng than của Việt Nam không nhiều cho nên chúng ta nên để dành tài nguyên trong nước bằng việc đẩy mạnh nhập khẩu than.

Đó là khẳng định của PGS.TS Trương Duy Nghĩa, Chủ tịch Hội Khoa học Nhiệt Việt Nam với Đất Việt xung quanh Quy hoạch phát triển ngành than đến năm 2020, xét đến 2030 mới được Chính phủ ban hành năm 2016.

PV: - Theo Quy hoạch phát triển ngành than đến năm 2020, xét đến 2030 mới được Chính phủ ban hành năm 2016, nhu cầu sử dụng than của Việt Nam thời gian tới sẽ liên tục tăng. Cụ thể đến năm 2020 là 86,4 triệu tấn, năm 2030 lên 156 triệu tấn.

Quy hoạch cũng cho biết sẽ tập trung thăm dò nâng cấp tài nguyên than, tăng tiến độ các đề án thăm dò mới tại Bể than Đông Bắc, Bể than sông Hồng, các mỏ than nội địa khác và đề án thăm dò than bùn…

Ông nhìn nhận như thế nào trước Quy hoạch trên? Theo ông, trữ lượng than của Việt Nam hiện nay có đáp ứng được những vấn đề mà Quy hoạch ngành than đề ra hay không?

PGS.TS Trương Duy Nghĩa: - Than lưu thông trên thị trường thế giới hiện nay chủ yếu là than bitum và á bitum, là những loại than được dùng trong các nhà máy nhiệt điện (NMNĐ) nên được gọi là Steam Coal, là loại than dễ cháy, nhiều chất bốc.

Trong khi đó trữ lượng than của Việt Nam không nhiều, chủ yếu là than antraxit, khó cháy, không đủ cung cấp để sản xuất điện. Sản lượng khai thác than khoảng 70 triệu tấn/ năm (sản lượng được coi là giới hạn), trong đó lượng than hàng năm cho điện khoảng 35-40 triệu tấn thì cũng chỉ sau vài chục năm nữa lượng than trong nước sẽ hết.

Vì vậy với Quy hoạch phát triển ngành than đến năm 2020, xét đến 2030 mới được ban hành năm 2016 tôi cho rằng cần phải xem xét hết sức thận trọng, đánh giá khách quan giữa tình hình trong nước và thị trường thế giới.

Chi 19.000 ty dong dao than/nam: Than re sao khong nhap?
PGS.TS Trương Duy Nghĩa chia sẻ nhiều điều xung quanh quy hoạch ngành than

Thực tế để tăng sản lượng than thì cần phải đầu tư rất nhiều tiền vào việc khai thác các mỏ. Hơn nữa từ đầu tư cho đến khi bắt đầu khai thác nhanh cũng phải mất 5 năm. Xét trong bối cảnh hiện nay, để làm việc này cũng không phải đơn giản.

Tôi xin được phân tích cụ thể từng Bể than mà Quy hoạch đề ra.

Thứ nhất, Bể than Đông Bắc trữ lượng không có nhiều. Giả dụ có tìm thêm được những mỏ mới thì phải cần thêm thời gian mới đầu tư được. Cho nên hiện nay trong quy hoạch than vẫn chỉ dừng lại ở sản lượng có thể khai thác được 2,2 tỷ tấn.

Thứ hai, Bể than sông Hồng, trữ lượng hiện nay khoảng 20 tỷ tấn nhưng khai thác cực khó khăn. Than ở Đồng bằng sông Hồng chủ yếu là than nâu và than á bitum. Đây là than dùng cho nhiệt điện rất tốt. Nhưng nó ở dưới sâu, với địa hình Đồng bằng Bắc Bộ là đất mượn nên khó khai thác. Nếu chúng ta khai thác xuống sâu thì vấn đề hầm lò phải hết sức chú ý. Nếu sập mỏ, nước tràn vào có thể chết công nhân. Hiện nay để giải quyết việc này, chúng ta cũng tiến hành liên doanh với Nhật Bản và đề xuất phương án khí hóa để chạy phát điện. Phương án này khai thác than là rẻ nhất nhưng lại có nhược điểm quá trình khí hóa than là quá trình mất năng lượng.

Thứ ba, các mỏ than nội địa ở Thái Nguyên, Bắc Giang, Núi Hồng, Khánh Hòa rất bé, than bùn cũng không đáng kể.  Vì vậy việc đẩy mạnh khai thác than không phải là biện pháp tốt nhất, có lợi về kinh tế trong điều kiện hiện nay.

PV: - Quy hoạch phát triển ngành than cũng nêu rõ, nhu cầu vốn đến năm 2030 ngành than cần là 96.566 tỷ đồng vốn đầu tư, bình quân là 19.313 tỷ đồng/năm. Giai đoạn 2021-2030 vốn đầu tư lên tới 172.437 tỷ đồng đầu tư để duy trì và mở rộng sản xuất, bình quân vốn đầu tư ngành than mỗi năm là 17.934 tỷ đồng.

Theo ông, việc mỗi năm nhà nước bỏ ra số tiền gần 20.000 tỷ đồng có nhiều quá không? Chúng ta nên tập trung vào dự án nào trong quy hoạch trên thưa ông?

PGS.TS Trương Duy Nghĩa: - Theo tôi đầu tư nhiều tiền hay ít tiền không quan trọng. Khi đầu tư vào quy hoạch than hay bất cứ 1 dự án nào đó thì phải tính đến toàn bộ đời sống của dự án. Bên cạnh đó là điều kiện để nó hoạt động trong đời sống đó sao cho hiệu quả kinh tế đạt được cao nhất.

Tôi lấy ví dụ, đầu tư khai thác mỏ than nhưng chỉ trong 15 năm hết tài nguyên sẽ khác hoàn toàn với đầu tư những mỏ có thời hạn lên tới 50 năm. Để hoạt động có hiệu quả thì đầu tư phải tính toán rất kỹ.

Ngoài ra, chúng ta cũng cần xem xét tương quan về sản lượng dự án sản xuất ra so với thị trường chung của thế giới. Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào thế giới với nhiều hiệp định tự do thương mại. Trong thời gian tới các quốc gia cùng khối Đông Nam Á như Indonesia có thể xuất khẩu than sang Việt Nam. Do đó trước khi đầu tư phải cân nhắc lợi hại.

Chi 19.000 tỷ đồng đào than/năm: Còn than không?

Tiếp theo, chúng ta đang thiếu trầm trọng tiền. Đầu tư hơn 19.000 tỷ đồng mỗi năm cho ngành than là đầu tư công nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng. Đầu tư ấy làm sao phải mang lợi ích, nhanh chóng thu hồi vốn để đầu tư tiếp cho những dự án khác. Nếu đầu tư mà chúng ta không thu được lợi hoặc nguồn lợi kéo dài thì phải xem lại.

Trong điều kiện hiên nay, nhập khẩu không hẳn có hại nên chúng ta phải cân nhắc việc này. Nhiều người hiện nay lo ngại rằng nếu nhập khẩu than nhiều quá sẽ dẫn đến khủng hoảng ngành năng lượng. Tôi cho rằng đánh giá như vậy có phần tiêu cực và hơi hình thức, giáo điều.

Các nước trên thế giới họ đều nắm bắt rất nhanh cơ chế thị trường. Nước Anh thời nữ thủ tướng Margaret Thatcher đã đóng cửa các mỏ than trong nước vì lương công nhân cao quá. Thay vào đó nước Anh đã quyết định nhập than từ nước ngoài để giảm giá thành sản xuất.

Chủ Nhật, 01/01/2017 07:17


Báo Đất Việt trên Facebook
.
Loading...


Sự Kiện