Mua lúa xuất khẩu: Vinafood 2 tự chế thuốc an thần?

(Thị trường) - Vinafood 2 sẽ không thể mua lúa trực tiếp từ nông dân thay vì mua gạo như cách làm truyền thống vì họ không giải quyết được vấn đề mấu chốt.

Đó là đánh giá của ông Vũ Trọng Khải, chuyên gia độc lập về kinh tế nông nghiệp trước sự thay đổi trong chiến lược kinh doanh lúa gạo của Tổng Công ty Lương thực miền Nam (Vinafood 2).

"Tư duy mới" trong kinh doanh lúa gạo

Khẳng định trên báo chí về chiến lược chuyển sang tiếp cận hạt lúa để chế biến xuất khẩu thay vì mua gạo của Vinafood 2, ông Huỳnh Thế Năng, Tổng giám đốc Vinafood 2 nói rằng: "Đây là chiến lược mang tính chất bước ngoặt của chúng tôi, thể hiện tư duy mới trong kinh doanh lúa gạo của Vinafood 2".

Trong báo cáo tham luận Vinafood 2 tăng cường hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ lúa gạo, xây dựng cánh đồng lớn, ông Huỳnh Thế Năng cho biết, sản lượng và giá trị xuất  khẩu của Vinafood 2 giảm so với cả nước. Cụ thể, xuất khẩu gạo năm 2013 giảm 55% về sản lượng và 57% về giá trị so với 2012 và giảm 57% về sản lượng và 62% về giá trị so năm 2011.

"Có nhiều nguyên nhân, nhưng cơ bản là các doanh nghiệp thành viên chưa chủ động được chân hàng, nguồn hàng với nhiều chủng loại sản phẩm có số lượng và chất lượng ổn định. Do đó, luôn ở thế bị động, gặp khó khăn khi thực hiện hợp đồng xuất khẩu (phải mua trôi nổi trên thị trường, tiềm ẩn rủi ro trong thu tiền hàng, do giá lúa nguyên liệu tăng)", Tổng giám đốc Vinafood 2 cho biết.

Sơ đồ chuỗi giá trị lúa, gạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Sơ đồ chuỗi giá trị lúa, gạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Theo đánh giá của các chuyên gia Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI), Tổ chức Lương nông Quốc tế (FAO) tại Hội thảo “Tái cấu trúc ngành lúa gạo Việt Nam theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững do Bộ NN&PTNT chủ trì ngày 26/11/2014, gạo Việt Nam số lượng nhiều, chất lượng thấp, giá thành cao, hình ảnh xuất khẩu thấp, chưa hấp dẫn các nhà nhập khẩu và thu hút đầu tư vào Việt Nam. Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến nền nông nghiệp Việt Nam phát triển thiếu tính ổn định, bền vững, việc tiêu thụ và xuất khẩu gạo sẽ gặp nhiều khó khăn nếu không có sự thay đổi về phương thức sản xuất và tiêu thụ. 

Bởi vậy, ông Huỳnh Thế Năng cho biết, Vinafood 2 quyết định thay đổi tư duy tiếp cận thị trường, từ phương thức mua gạo sang tiếp cận mua lúa để kiểm soát chất lượng đầu vào cho chế biến xuất khẩu. Để làm việc này, Vinafood 2 sẽ củng cố phát triển thị trường tập trung; xây dựng chiến lược phát triển thị trường thương mại (dòng gạo trắng thông dụng, dòng gạo thơm, giá cạnh tranh); xây dựng và phát triển vùng nguyên liệu cánh đồng lớn. Vinafood 2 cũng thiết lập và xây dựng nhãn hiệu gạo theo hai cấp: nhãn hiệu gạo cơ sở và nhãn hiệu gạo Vinafood 2.

Đặc biệt, trong báo cáo của lãnh đạo Vinafood 2, khi đề cập đến việc phát triển liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, đã vạch ra 3 phương thức hợp đồng sẽ ký kết với nông dân. Thứ nhất, hợp đồng sản xuất và tiêu thụ lúa có đầu tư giống, vật tư nông nghiệp đầu vào (phân bón thuốc bảo vệ thực vật) với giá hợp lý, ổn định, trả chậm sau 4 tháng. Thứ hai, hợp đồng chỉ đầu tư giống hoặc vật tư nông nghiệp. Thứ ba, hợp đồng tiêu thụ sản phẩm (không đầu tư).

Vinafood 2 sẽ triển khai thu mua lúa tại địa bàn sản xuất và thu mua theo giá thị trường tại thời điểm, với hình thức thu mua linh hoạt đối với lúa khô và lúa tươi theo tiêu chuẩn chất lượng hợp đồng. 

"Vinafood 2 khuyến khích nông dân vận chuyển lúa về kho doanh nghiệp để cân. Doanh nghiệp sẽ hỗ trợ bao đựng lúa và chi phí vận chuyển", đại diện Vinafood 2 cho biết.

Vinafood 2 tự chế thuốc an thần?

Trao đổi với Đất Việt về sự chuyển hướng chiến lược trong kinh doanh lúa gạo của Vinafood 2, ông Vũ Trọng Khải, chuyên gia độc lập về kinh tế nông nghiệp cho rằng, Vinafood 2 sẽ không thể làm được như họ nói bởi doanh nghiệp này không giải quyết được vấn đề then chốt.

Theo ông Khải, Vinafood 2 đang 'ăn gian' mô hình của Công ty CP Bảo vệ thực vật An Giang. Theo đó, Công ty CP Bảo vệ thực vật An Giang đã thực hiện hình thức tổ chức sản xuất theo hợp đồng khá sớm tại ĐBSCL trên diện tích khoảng 67.000 ha, hợp đồng hợp tác sản xuất lúa hàng hóa với các hộ nông dân trong vùng.

Công ty CP Bảo vệ thực vật An Giang đầu tư cho nông dân giống, thuốc bảo vệ thực vật, vật tư, phân bón các loại vào từng thời điểm sử dụng không tính lãi trong 120 ngày, kể từ đầu vụ đến sau thu hoạch 30 ngày (nhằm giải quyết vấn đề vốn cho nông dân).

Đồng thời, lực lượng khuyến nông FF (Farmer’s Friends – bạn của nhà nông) của công ty hướng dẫn nông dân thực hiện quy trình kỹ thuật canh tác hiệu quả – bền vững, ghi nhật ký đồng ruộng, xử lý dịch hại và các vấn đề nảy sinh trong quá trình sản xuất – sinh học trên đồng ruộng, lên lịch thu hoạch, vận chuyển lúa về nhà máy. Công ty này cũng xây dựng một nhà máy chế biến gạo với công suất 100.000 tấn lúa/năm ở xã Vĩnh Bình, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

"Công ty CP Bảo vệ Thực vật An Giang có hai lực lượng rất mạnh: đó là lực lượng FF và hệ thống cung cấp vật tư nông nghiệp, sản xuất giống xác nhận, lại có kinh nghiệm nhiều năm. Thế nhưng họ cũng chỉ có thể thí điểm trên diện tích 67.000 ha mà không mở rộng được nữa.

Vấn đề mấu chốt là nông dân Việt Nam quá nhỏ. Để sản xuất trên diện tích khoảng 67.000 ha, công ty đã phải ký hợp đồng với khoảng 23.000 nông dân. 67.000 ha sản xuất lúa chưa phải là một diện tích lớn nhưng 23.000 nông dân lại là một con số rất lớn.

Nếu phát triển mô hình này hơn nữa thì Công ty CP Bảo vệ Thực vật An Giang không thể nào ký hợp đồng với hàng chục vạn hộ nông dân vì với quy mô lớn như thế, đội ngũ FF của công ty không đủ sức để hướng dẫn nông dân thực hiện GlobalGAP. Mỗi FF giỏi lắm quản lý được 50ha, mà đây không phải là 50ha của 50 hộ nông dân mà của 80-100 hộ. Hay cứ cho rằng bây giờ có 4-5 nhà máy chế biến gạo công suất 100.000 tấn/năm thì nó cũng chẳng là gì so với ĐBSCL", ông Khải phân tích.

Bởi vậy, theo ông Vũ Trọng Khải, Vinafood 2 sẽ không thể đi ký hợp đồng với hàng triệu hộ nông dân ở ĐBSCL, thậm chí là với các hợp tác xã.

Một vấn đề khác khiến ông Khải cho rằng chiến lược Vinafood 2 vạch ra thành "nhiệm vụ bất khả thi", đó là việc thu mua lúa trực tiếp từ nông dân.

"Chính Vinafood 2 đã thừa nhận có nhiều nhân tố trung gian tham gia cả công đoạn cung ứng đầu vào (giống, vật tư nông nghiệp) và dịch vụ phục vụ sản xuất, thu hoạch, sau thu hoạch. Trong đó 93% lượng lúa do nông dân sản xuất ra bán cho thương lái; các doanh nghiệp thu mua lúa, gạo qua lực lượng này không thể kiểm soát chất lượng sản phẩm do chất lượng giống đầu vào, tình trạng đấu trộn các loại giống lúa để bán cho doanh nghiệp diễn ra phổ biến.

Bởi thế, chỉ cần thay thế 20% thương lái Vinafood 2 cũng không làm được, nói gì đến 93%. Vinafood 2 không có lực lượng, hơn nữa phải trả phí rất cao. Thương lái nhỏ lẻ họ gom mấy cấp, có xuồng nhỏ lấp đầy các cánh đồng nhỏ, gom lúa lại đưa vào ghe lớn. Điều này tạo ra đủ loại thóc, đủ loại độ ẩm, đủ loại thời vụ gặt hái.

Các nhà máy xay xát của tư nhân làm gạo nguyên liệu cũng chỉ là gạo "tả pín lù" không sấy, Vinafood 2 mua loại gạo này về rồi mới làm trắng, sấy rồi xuất khẩu. Bởi thế, làm sao Vinafood 2 có gạo chất lượng, theo tiêu chuẩn GAP được?! Thậm chí nếu xảy ra sự cố, thử hỏi Vinafood 2 có truy xuất được xem lô gạo đó thuộc ruộng của nông dân nào không?".

Cuối cùng, ông Khải cho rằng, sự chuyển hướng chiến lược của Vinafood 2 chẳng qua chỉ là đơn vị này đang tự chế thuốc an thần để xoa dịu chính mình, cơ quan quản lý và người nông dân mà thôi.

Ông chỉ rõ, nếu thay đổi thực sự ngành lúa gạo Việt Nam phải bắt đầu từ chính sách ruộng đất, phải tạo ra được cung và cầu. "Nông dân chỉ cho thuê đất hoặc bán đất khi có sinh kế ổn định. Nếu không, họ ra thành phố làm việc nhưng sẵn sàng "cài số lùi" về quê làm ruộng, khi ấy sẽ chẳng có cung. Về cầu, đó chính là những nông dân được đào tạo, có kỹ năng quản lý được trang trại của mình, nắm trong tay mươi mười lăm ha thì mới sản xuất theo yêu cầu GAP được. Còn nông dân theo kiểu "lão nông tri điền" giỏi lắm chỉ quản lý được vài ba ha", ông Khải chốt lại.

Thương nhân xuất khẩu gạo phải có vùng nguyên liệu

Bộ Công Thương vừa ra Quyết định mới ban hành về lộ trình xây dựng vùng nguyên liệu hoặc thực hiện liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa, gạo của thương nhân kinh doanh, xuất khẩu gạo giai đoạn 2015-2020. Theo đó, thương nhân xuất khẩu phải có vùng nguyên liệu tương ứng với lượng gạo xuất khẩu trước đó.

Đối với những thương nhân xuất khẩu gạo dưới 50.000 tấn/năm, trong năm đầu tiên phải xây dựng vùng nguyên liệu là 500 ha, từ năm thứ hai trở sẽ tăng thêm 300 ha mỗi năm. Thương nhân có lượng gạo xuất khẩu từ 50.000 đến dưới 100.000 tấn gạo/năm, năm đầu làm 800 ha, những năm sau mỗi năm tăng thêm 500 ha.

Với những thương nhân xuất khẩu từ trên 100.000 đến dưới 200.000 tấn/năm, năm đầu làm 1.200 ha, những năm sau mỗi năm tăng thêm 800 ha. Còn thương nhân xuất khẩu từ 200.000 tấn/năm, năm đầu làm 2.000 ha và những năm sau tăng thêm 1.500 ha.

Quyết định có hiệu lực từ 1/3/2015.

  • Thành Luân

Thứ Sáu, 30/01/2015 07:15

Sự Kiện