Việt Nam nhập than: Sự lệch pha không bình thường

(Thị trường) - Cái “không bình thường” là Việt Nam chưa có nhiều phân tích, cảnh báo dài hạn và kiến nghị để có chính sách năng lượng quốc gia bền vững.

GS.TSKH Nguyễn Quang Thái, Tổng thư ký Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam trao đổi với Đất Việt xung quanh vấn đề nhập khẩu than của Việt Nam.

PV: - Việt Nam vừa ký nhập khẩu 20 triệu tấn than/năm với một số công ty của Indonesia, Australia, Nhật Bản. Dự báo năm 2016, Việt Nam sẽ phải nhập khẩu khoảng 3-4 triệu tấn và tới năm 2030 con số này lên tới 135 triệu tấn. Như vậy Việt Nam đã phải nhập khẩu chính thứ mình đang bán ra. Tại sao lại có sự lạ đời như vậy, thưa ông? 

GS.TSKH Nguyễn Quang Thái: - Đây là kết quả của bài toán cân đối năng lượng quốc gia. Năm 1990, GDP cả nước tương đương 6 tỷ USD và sản lượng than khi đó mới dùng mấy triệu tấn. Đến nay, dù đã có thêm dầu mỏ, thủy điện, thì với GDP đã vượt 200 tỷ USD thì nhu cầu năng lượng nói chung và than cũng phải lên tới hàng chục triệu tấn, hoặc hơn thế.

Khu mỏ Quảng Ninh mấy năm gần đây đã có thể nâng sản lượng từ 5-10 triệu tấn than nguyên khai của những năm đầu đổi mới lên 40-50 triệu tấn đã là một kỳ tích. Nhưng quy về than tiêu chuẩn, hay quy về tấn nhiên liệu tương đương dầu mỏ thì nói chung phải 2 thậm chí 3 than nguyên khai mới ngang 1 tấn dầu mỏ. Nhưng sản lượng than nguyên khai chỉ có hạn, do trữ lượng cũng có hạn, nhất là khai thác lộ thiên ngày càng khó, và nguồn cạn dần.

Các nhà năng lượng đã đưa ra dự báo từ nhiều năm, là Việt Nam sẽ nhanh chóng phải nhập khẩu than với quy mô ngày càng lớn, nếu còn tiếp tục dùng than làm nhiên liệu (chủ yếu cho sản xuất nhiệt điện).

Như vậy, Việt Nam phải tìm được các đối tác có nguồn than lớn để cung cấp ổn định với giá phù hợp để than có thể tiếp tục là một nguồn nhiên liệu trong cân bằng nhiên liệu – năng lượng toàn quốc. Năm nay việc nhập khẩu này đã xảy ra không phải là việc quá sớm, mà theo tôi, Việt Nam nên chuẩn bị sẵn sàng để ký được các hợp đồng cung cấp nhiên liệu ổn định, giá rẻ cho các nhà máy nhiệt điện, phù hợp với chính sách phát triển bền vững về môi trường.

Ngày nay sản lượng dầu khí đang bị giảm đi nếu Việt Nam không tìm kiếm được nhiều mỏ mới, trong khi nhu cầu tiếp tục tăng lên cho tiêu dùng nội địa. Do đó, cần có chính sách năng lượng dài hạn, cân đối cả về năng lượng sơ cấp (từ các dạng thủy điện, than, dầu, điện gió, …). Riêng với than, còn cần cân đối cả về chủng loại (than antraxit, than cám, than bùn…). Hiện nay dự trữ than bùn ở Đồng bằng sông Hồng đang được nghiên cứu, xem xét khai thác đang được cho là một khả năng, nhưng chưa phải là trước mắt.

Việt Nam sẽ nhanh chóng phải nhập khẩu than với quy mô ngày càng lớn
Việt Nam sẽ nhanh chóng phải nhập khẩu than với quy mô ngày càng lớn

PV: - Nhiều năm nay Trung Quốc là thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam chiếm hơn 60% lượng xuất khẩu. Tuy nhiên, trong thời gian qua xuất khẩu than đá của Việt Nam sang thị trường Trung Quốc lại giảm cả về lượng và trị giá. Theo Tổng cục Hải quan, so với 10 tháng 2013, xuất sang Trung Quốc đạt 3,87 triệu tấn, giảm gần 50%, với trị giá 229,9 triệu USD. Cũng theo đơn vị này, Việt Nam bắt đầu nhập khẩu than đá từ Trung Quốc trong năm nay. Từ đầu năm đến hết tháng 10/2014, Việt Nam đã nhập khẩu hơn 385.000 tấn than đá từ Trung Quốc, giá trị kim ngạch gần 100 triệu USD Mỹ.

Trong khi Việt Nam khai thác tài nguyên để bán cho Trung Quốc với giá rẻ rồi lại nhập về chính loại than mà chúng ta đã và đang tích cực xuất khẩu với giá cao. Ông có bình luận gì trước những con số này?

GS.TSKH Nguyễn Quang Thái: - Rõ ràng là ai cũng chê trách tình trạng khai thác than “thổ phỉ” và xuất khẩu thiếu cân nhắc. Nhưng việc vừa xuất khẩu và lại nhập khẩu từ ngay cùng một thị trường cũng là điều bình thường, vì khác chủng loại. Còn nếu theo dòng thời gian, thì hôm nay ta thừa có thể xuất, thì thời gian sau, ta thiếu phải nhập khẩu cũng là điều “bình thường”.

Cái “không bình thường” chính là tự trách mình, trách các cơ quan nghiên cứu năng lượng và hoạch định chính sách còn chưa có nhiều phân tích, cảnh báo dài hạn và kiến nghị để có chính sách năng lượng quốc gia được hiệu quả và bảo đảm phát triển bền vững.

Giá cả năng lượng cũng là một bộ môn khoa học không dễ nghiên cứu, đoán định và tư vấn. Việc giảm giá dầu mỏ 20-30% năm 2014 đã là một sự kiện chưa được lường trước, khi các tiến bộ công nghệ được áp dụng quy mô lớn và có cả các yếu tố chính trị làm ảnh hưởng. Đó là những điều cần đánh giá tác động kỹ hơn trong điều hành kinh tế hiện nay.

PV: - Trong khi Vinacomin cứ đào than đi bán thì những tập đoàn nhà nước như PVN, EVN lại đang đua nhau tìm kiếm nguồn than ngoại để nhập khẩu. Tại sao lại có sự lệch pha như vậy, thưa ông? Nếu kéo dài tình trạng này sẽ gây ra tác hại thế nào? Ai là người được hưởng lợi?  

GS.TSKH Nguyễn Quang Thái: - Vinacomin là tập đoàn than khoáng sản thì nhiệm vụ của họ là sản xuất than, đáp ứng nhu cầu của đất nước, kể cả xuất nhập khẩu. Còn PVN, EVN lại kinh doanh trực tiếp các nhà máy nhiệt điện chạy than thì phải nhập khẩu than, do yếu tố về cân đối nguồn than và chủng loại thích hợp với từng nhà máy.

Về lâu dài tình trạng này cần có phối hợp tốt hơn trên cơ sở cân đối năng lượng dài hạn và hiệu quả. Cơ quan quản lý năng lượng của Bộ Công thương là đơn vị có trách nhiệm chính tham mưu về vấn đề này, cùng tham khảo ý kiến các nhà nghiên cứu năng lượng. Ngay đường, gạo cũng có hiện tượng xuất và nhập như vậy. Vấn đề là cơ quan điều tiết năng lượng cần làm tốt vai trò của mình để có được các cân đối động tốt nhất, chứ không thể bắt cuộc sống không được có lệch pha!

PV: - Nhiều nước phát triển bảo vệ tài nguyên trong nước bằng cách nhập khẩu tài nguyên từ các nước khác thay vì khai thác nguồn tài nguyên của nước mình, như Mỹ nhập khẩu dầu, Na Uy nhập khẩu gỗ... Ngay cả Trung Quốc cũng đóng cửa hàng loạt các mỏ than. Trong khi đó, ở Việt Nam, với những con số xuất khẩu và nhập khẩu than như trên, ông có dự báo thế nào về nguy cơ phụ thuộc nước ngoài của Việt Nam? 

GS.TSKH Nguyễn Quang Thái: - Hoa Kỳ có trữ lượng dầu mỏ lớn, nhưng nhiều năm vẫn nhập khẩu dầu. Chính sách năng lượng của Trung Quốc như một nước lớn, cũng có nhiều giải pháp đa dạng, nhưng cũng có nhiều khó khăn khi giải quyết vấn đề cung ứng than, do hiện nay tình trạng gây ô nhiễm về môi trường đã rất nghiêm trọng.

Với Việt Nam, như đã nói, vấn đề xuất nhập khẩu than cần được giải quyết trên cơ sở bài toán cân đối năng lượng chung và có phân theo chủng loại, sử dụng hiệu quả và bền vững. Đây là vấn đề phải được xem xét ở cấp quốc gia, trong chiến lược phát triển chung. Vấn đề này chắc chắn sẽ được quan tâm xem xét kỹ khi nước ta đang chuẩn bị để tiến tới thảo luận các văn kiện của kế hoạch 5 năm mới 2016-2020 và các năm tiếp theo.

  • Thành Luân

Thứ Sáu, 05/12/2014 07:50

Loading...
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện