Cuộc chiến cuối cùng của kỵ binh

(Hồ sơ) - Ngày 26/4/1945, các chiến sỹ kỵ binh của Tập đoàn quân kỵ binh cận vệ số 7 bắt đầu tấn công thành phố Brandenburg, cách Berlin 40 km về phía tây.

1.Các cụ dạy: “ Khuyển mã chi tình” – nói theo ngữ đời thường thì ngựa và chó là hai giống vật trung thành nhất của con người.

2. Chúng ta đã nói tới những chú chó trong cuộc Chiến tranh vệ quốc ở hai bài trước. Sẽ làm một thiếu sót lớn nếu không kể tới thành tích của một giống vật khác trong bộ đôi này – đó là những chú ngựa.

3. Hiện vẫn có nhiều quan điểm khác nhau trong giới phân tích quân sự về vai trò của kỵ binh trong cuộc Chiến tranh vệ quốc. Khuôn khổ bài báo ngắn, chúng ta không đề cập tới ở đây (và cũng không đủ trình độ để bàn luận), chỉ xin dẫn ra các số liệu và ý kiến của một số “ người trong cuộc”.

4. Trước ngày lễ 9/5, rất nhiều ý kiến về tầm quan trọng của “Lend-lease” Mỹ cho Liên Xô trong Chiến tranh. Nhưng có một “ Lend-lease” khác mà ít người để ý- và như thế là rất không công bằng.

1. Kỵ binh – lực lượng tác chiến rất hiệu quả trong trận chiến với Phát xít Đức

Ngày 26/4/1945, các chiến sỹ kỵ binh của Tập đoàn quân kỵ binh cận vệ số 7 bắt đầu tấn công thành phố Brandenburg, cách Berlin 40 km về phía tây.

Như vậy, chính kỵ binh là lực lượng cuối cùng khép kín vòng vây quanh Berlin trong chiến dịch công kích cuối cùng của cuộc Chiến tranh vệ quốc.

Tổng cộng đã có 12 sư đoàn kỵ binh Xô Viết với hơn 100.000 chiến sỹ kỵ binh tham gia chiến dịch tấn công Berlin. Lực lượng kỵ binh đã là một lực lượng tác chiến có hiệu quả và tham gia cuộc Chiến tranh vệ quốc từ ngày đầu tiên đến ngày cuối cùng.

2. Kỵ binh đỏ và Cô dắc thời Xô Viết

Trước chiến tranh, cùng với việc phát triển mạnh các đơn vị tăng- thiết giáp, giới lãnh đạo Xô Viết đã thẳng tay cắt giảm lực lượng kỵ binh. Quân số kỵ binh Xô Viết trong các năm từ 1937 đến 1941 bị cắt giảm hơn một nửa.

Nhưng những hoạt động tác chiến trên những thảo nguyên rộng lớn không có đường sá ở Đông Âu đã buộc giới lãnh đạo Xô Viết xem xét lại quan điểm của mình đối với kỵ binh.

Ngay ngày 15/7/1941, nguyên soái Zukov, sau khi sơ kết kinh nghiệm của 3 tuần đầu chiến tranh đã viết trong chỉ thị của Tổng hành dinh Bộ tư lệnh tối cao như sau: “Quân đội ta đã đánh giá không đầy đủ ý nghĩa của kỵ binh.

Trong tình hình hiện nay ở các mặt trận, khi hậu phương của đối phương kéo dài vài trăm km trong khu vực rừng, thảo nguyên thì các cuộc đột kích của kỵ binh có thể giữ vai trò quyết định trong việc làm rối loạn việc điều hành và cung cấp đảm bảo cho Quân đội Đức..”

Mùa hè năm 1941, trong trận chiến phòng thủ Smolensk, các đợt đột kích của 5 sư đoàn kỵ binh Xô Viết vào hậu phương Quân Đức đã góp phần quyết định vào chiến thắng của Hồng Quân.

Trong trận phản công đầu tiên của Quân đội Xô Viết tại Elnhia, chính các chiến dịch đột kích của Kỵ binh Hồng Quân đã ngăn được lực lượng dự bị của Quân Đức tăng cường và đã đảm bảo cho chiến dịch phản công thắng lợi.

Trong các tháng 11, 12/1941, trong chiến dịch bảo vệ Matxcova, gần 1/4 các sư đoàn Xô Viết tham gia chiến dịch này là các sư đoàn kỵ binh. 02 Tập đoàn quân kỵ binh đã phong danh hiệu” tập đoàn quân cận vệ” trong chiến dịch này vì đã giữ một vai trò chiến lược trong chiến dịch phản công của Quân đội Xô Viết.

Nhờ có khả năng cơ động cao trên những thảo nguyên đầy tuyết vào mùa đông quanh Matxcova nên kỵ binh đã làm rối loạn hoạt động trong hậu phương quân Đức và đánh bại lực lượng dự bị của chúng từ lúc chưa tham chiến ..

Kinh nghiệm tác chiến thời gian đầu cuộc Chiến tranh đã buộc Bộ Tổng tư lệnh tối cao quyết định nhanh chóng tăng cường quân số của kỵ binh – nếu như ngày 22/6/1941 ( ngày bắt đầu chiến tranh) , Hồng quân chỉ có 13 sư đoàn kỵ binh với 116 .000 chiến sỹ, thì đến mùa xuân năm 1943, con số các sư đoàn đã là 26 với gần 250.000 sỹ quan và chiến sỹ.

                   Xem tiếp

Thứ Hai, 25/05/2015 06:50

Sự Kiện