Mỹ phong tỏa thủy lôi, không kích cảng Hải Phòng năm 1972

(Hồ sơ) - Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, các thủy thủ tàu Liên Xô Michurin đã có những kỷ niệm đáng nhớ trong đợt Mỹ phong tỏa cảng Hải Phòng.

Tàu Liên Xô bất chấp thủy lôi Mỹ phong tỏa cảng Hải Phòng

Tàu vận tải Liên Xô Michurin (vận chuyển hàng hóa quân sự, bao gồm đạn dược và tàu phóng lôi) đã trải qua khoảng thời gian 14 tháng nằm lại cảng Hải Phòng- một khoảng thời gian kỷ lục- dài hơn hẳn so với 9 tàu chở hàng Liên Xô và 6 tàu khác từ Ba Lan, Cuba, Đông Đức

Michurin đến Hải Phòng sớm hơn so với những tàu khác là từ tháng 1 năm 1972. Tất cả những con tàu này đã bác bỏ tối hậu thư của Mỹ buộc tàu không hoàn thành việc dỡ hàng và rời ngay khỏi cảng, khi người Mỹ dự định rải thủy lôi ở lối ra biển từ cảng Hải Phòng.

Việc dỡ hàng quân sự đòi hỏi phải đặc biệt cẩn trọng, do đó đã kéo dài thời gian lưu cảng. Trước tối hậu thư của Mỹ phải rời cảng mà không hoàn thành việc dỡ hàng, chỉ huy tàu và đoàn thủy thủ đã từ chối, với sự đồng ý của Moscow. Khi việc bốc dỡ đã hoàn thành thì lối ra khỏi cảng đã bị người Mỹ rải kín thủy lôi.

Vào tháng 8 năm đó, Bộ Vận tải Biển Liên Xô ra lệnh thay thế các thủy thủ đoàn tất cả tàu Liên Xô đang kẹt lại trong cảng bị phong toả. Trong số thành viên đoàn thủy thủ mới có mặt trên tàu Michurin, ông Yuri Demchenko đã viết về kỷ niệm của những ngày bị phong tỏa.

Đoàn thủy thủ trở thành nhân chứng chứng kiến những ​​vụ đánh bom thảm khốc của Mỹ xuống Hải Phòng và khu vực lân cận. Vào thời điểm đó, máy bay Mỹ hàng ngày đều đặn ném bom xuống thành phố và các vị trí của Quân đội nhân dân Việt Nam trong khoảng một hoặc hai giờ.

Mặc dù tàu hàng Liên Xô và tàu các nước khác đã trở thành một tấm khiên chắn cho cảng, bom đã phát nổ ngay gần họ không phải chỉ một lần. Ông Yuri Demchenko đặc biệt nhớ ngày 19 tháng 11 năm 1972, với tổng cộng 11 phi vụ ném bom.

My phong toa thuy loi, khong kich cang Hai Phong nam 1972

Trước khi rút quân về nước, Mỹ đã tăng cường không kích, phong tỏa Miền Bắc Việt Nam

“Máy bay bay từng đàn theo kiểu làn sóng nối tiếp làn sóng, gieo rắc cái chết. Căn cứ quân sự, kho tàng và nhà cửa bốc cháy. Tên lửa phòng không, pháo cao xạ bắn lên gần như không ngừng. Hàng loạt cột khói màu đen nâu treo lơ lửng phía trên bãi biển và trên mặt biển. Tổn thất thương vong dân sự là rất cao. Tất cả điều này gây ra lòng căm hận trong chúng tôi đối với bọn xâm lược Mỹ” - ông Demchenko viết trong hồi ký của mình.

Ví dụ như vào ngày 26 tháng 6 năm 1972, các công nhân cảng Việt Nam chuyển đồng đội bị thương của mình đến tàu Michurin để được giúp đỡ. Bác sĩ của tàu đã lấy những mảnh bom ra khỏi lưng của anh.

Như theo quy định, các tàu kẹt lại trong cảng không phải là mục tiêu của những trận ném bom. Các thủy thủ sơn những lá cờ Liên Xô khổng lồ lên nóc hầm tàu và boong tàu để phi công Mỹ thấy rằng ở phía dưới là con tàu Xô viết. Ít ra đó là một cách để tăng thêm sự an toàn cho các thủy thủ và các chiến sĩ bộ đội Việt Nam ở các trận địa pháo, tên lửa bố trí gần tàu.

Tuy nhiên, các mối đe dọa đến cuộc sống các thủy thủ là hiện hữu. Ví dụ như trong một cuộc không kích, quả bom đã trúng tàu Ba Lan Yozef Konrad, khiến 4 người thiệt mạng và 19 người bị thương. Đoàn thủy thủ tàu Michurin đã tham gia dập tắt đám cháy và hỗ trợ các nạn nhân.

Ông Vladimir Payevsky, thủy thủ tàu Babushkin đã ghi lại trong nhật ký của mình: “Chúng tôi phải sẵn sàng với bất kỳ tình huống nào. Rất có khả năng tàu bị trúng những trái bom mà phi công Mỹ bị trúng đạn sẽ thả bừa bãi để cứu máy bay. Hay máy bay bị bắn rơi đâm xuống; hoặc các tên lửa mất mục tiêu hay chệch hướng, hoặc đạn pháo phòng không chưa kịp nổ. Đó là chưa kể các mảnh đạn thỉnh thoảng vẫn rơi trúng tàu”.

Thứ Bảy, 24/06/2017 08:06

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện