Những người lính Xô Viết làm chấn động thế giới

(Hồ sơ) - Mỹ trầm trồ: những người lính Xô Viết trẻ trong tình huống như vậy vẫn không đánh mất tính thiện, không trở nên hung ác, không cãi cọ nhau.

Sắp đến ngày 9/5, từ trước đến nay đã có rất nhiều bài viết về chiến công của những người lính, sỹ quan Xô Viết trong Chiến tranh Vệ quốc.

Còn trong bài này, xin được kể về một chiến công (có thể gọi như vậy) của họ trong thời bình – về cuộc “ phiêu lưu bất đắc dĩ ” 51 ngày đêm của 4 người lính Xô Viết trên Thái Bình Dương. Và cả về những thủy thủ tàu sân bay Mỹ.

Nhung nguoi linh Xo Viet lam chan dong the gioi

Có thể bạn đọc đã nghe hoặc đã đọc câu chuyện này ở đâu đó , nhưng vẫn xin kể lại .

Chiếc phà T-36

Tháng 1/1960, đảo Iturup , một trong những hòn đảo của Quần đảo Kuril ( đang là đảo tranh chấp với Nhật Bản).

Do nước cạn và đáy biển ven bờ đầy đá nên việc dùng tàu lớn vận chuyển hàng cho đảo cực kỳ khó khăn, nhiệm vụ trung chuyển hàng hóa (chuyển hàng từ tàu vào bờ) cho đảo được giao cho phà đổ bộ tự hành chở tăng T-36 .

Nhung nguoi linh Xo Viet lam chan dong the gioi

Tuy có cái tên “hoành tráng” là “phà đổ bộ chở tăng tự hành” , nhưng thực chất đây là một tàu nhỏ có lượng giãn nước 100 tấn, chiều dài 17 m, chiều rộng 3,5 m , mớn nước – hơn 1 m một chút.

Tốc độ tối đa của phà – 9 hải lý/h và cự ly hoạt động an toàn cách bờ không quá 300 m.

T-36 rất thích hợp cho việc chuyển hàng hóa từ các tàu lớn vào bờ tại Iturup. Dĩ nhiên, nếu không có bão.

Mất tích

Ngày 17/1/1960, bão nổi dữ đội. Gần 9h sáng , gió với tốc độ 60 m/s đã làm đứt cáp neo và đẩy chiếc phà này ra biển. Những người trên bờ không thể làm được gì ngoài việc chứng kiến cảnh những người trên phà đang cố vật lộn với sóng biển. Sau đó, T-36 biến mất khỏi tầm nhìn ...

Khi cơn bão qua đi, các cuộc tìm kiếm bắt đầu. Đội tìm kiếm tìm thấy trên bờ một số vật dụng trôi dạt từ phà và Bộ Tư lệnh cho rằng chiếc phà đã chìm và những người có mặt trên phà lúc đó đã thiệt mạng.

Trên phà T-36 vào thời điểm mất tích có 4 người lính: hạ sỹ Askhat Ziganshin 21 tuổi , binh nhì Anatoli Kriuchkovski 21 tuổi, binh nhì Philipp Poplavski 20 tuổi và binh nhì Ivan Fedotov 20 tuổi .

Gia đình của những người lính này được thông báo : người thân của họ đã mất tích khi đang thực hiện nhiệm vụ . Nhưng dù vậy , các căn hộ này vẫn bị theo dõi : biết đâu trong số những người mất tích lại có kẻ đào ngũ .

Nhưng tuyệt đại bộ phận đồng đội đều cho rằng họ đã nằm sâu dưới đáy đại đương ..

“Bị gió cuốn đi”

Bốn người lính có mặt trên phà T-36 vận lộn với bão tố cho đến khi bão tan trong suốt 10 tiếng đồng hồ. Tất cả nhiên liệu trên tàu đã được sử dụng hết. Sóng biển cao tới 15 m đã làm phà hư hỏng nặng.

Còn bây giờ, gió đẩy tàu trôi ngày một xa ra biển. Hạ sỹ Ziganshin và các đồng đội của mình không phải là thủy thủ - họ chỉ là lính công binh phục vụ trong một tiểu đoàn xây dựng .

Bốn chiến sỹ này được cử đến phà T-36 để bốc dỡ một tàu hàng sắp đến. Nhưng bão biển đã quyết định theo một cách khác. Các chiến sỹ rơi vào tình huống gần như không có lối thoát.

Nhiên liệu không còn, liên lạc với bờ không có, đấy còn chưa nói đến chuyện T-36 không phù hợp với những chuyến “du lịch dài ngày trên biển ” như vậy.

Lương thực trên phà lúc đó chỉ có một ổ bánh mỳ, hai hộp thịt, một hộp mỡ và một ít bột mỳ. Còn hai xô khoai tây nữa nhưng đã bị đổ lăn lóc trong khoang máy và ngấm dầu mazut. Thùng đựng nước uống cũng bị lật nghiêng và đã bị nước biển ngấm vào. Trên phà còn có một bếp dầu, mấy bao diêm và vài bao thuốc lá “ Belamor “ (loại thuốc lá rất nặng) .

Tù binh của “hải lưu thần chết”

Số phận lại còn trêu họ: sau khi bão tan, Askhat Zigansin tìm thấy ở buồng lái tàu một tờ báo “Sao đỏ “ (Tờ báo của Bộ quốc phòng Liên Xô, kiểu như báo “Quân đội nhân dân” của ta ) có đăng thông báo: trên khu vực mà họ đang có mặt sẽ tiến hành các vụ phóng tên lửa nên cấm tàu thuyền qua lại.

Những người lính trên tàu tự hiểu: sẽ không có ai tìm họ ở hướng này cho đến khi các vụ thử tên lửa kết thúc. Có nghĩa là phải cố cầm cự cho đến hết cuộc tập trận.

Nước uống được lấy từ hệ thống làm lạnh động cơ – tuy đầy mùi gỉ sắt những vẫn có thể dùng được. Họ cũng hứng nước mưa. Đồ ăn là món canh nấu từ một chút thịt hộp , hai củ khoai tây sặc mùi dầu, một nhúm bột.

Với khẩu phần như vậy, những người lính Xô Viết không chỉ để duy trì sự sống, mà còn phải làm việc để phà không bị chìm - gạt tuyết bên mạn phà để nó không bị lật , tát nước từ khoang máy .

Họ ngủ trên một cái gường rộng tự ghép, nằm úp thìa để giữ ấm. Những người lính đó không biết rằng dòng chảy đang đưa họ ra ngày càng xa bờ có cái tên là “ Hải lưu tử thần''. Nói chung là cả bốn người lính đều cố không nghĩ đến những điều tồi tệ , bởi vì nếu như vậy họ thì sẽ rơi vào tâm trạng tuyệt vọng.

Một ngụm nước và một miếng ủng da

Ngày lại ngày, tuần lại tuần … Thức ăn và nước uống ngày càng ít. Lúc đó hạ sỹ Ziganshin chợt nhớ tới một câu chuyện mà cô giáo chủ nhiệm thời học phổ thông kể về các thủy thủ gặp nạn trên biển và không có cái gì ăn.

Để sống sót , những thủy thủ đó đã đun và ăn những đồ vật bằng da. Thắt lưng của Ziganshin cũng là thắt lưng da.

Thứ Sáu, 05/05/2017 07:48

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện