Phòng không Việt Nam-đấu sức và đấu trí với Không quân Mỹ

(Hồ sơ) - Để có phi công Việt Nam tăng khả năng phát hiện kịp thời các máy bay của đối phương và hoạt động có hiệu quả trong điều kiện tầm nhìn hạn chế...

Để tăng xác xuất tiêu diệt mục tiêu, trong một lần công kích, MiG thường phóng 2 quả tên lửa. Để làm mồi nhử các máy bay Mỹ cho MiG-21PF “xử lý”, Bộ Tư lệnh Không quân Bắc Việt thường sử dụng MiG-17F tốc độ cận âm tấn công để buộc máy bay đối phương phải lấy độ cao.

Cách đánh tấn công bất ngờ và thoát ly nhanh đã đảm báo cho các máy bay đánh chặn mang tên lửa MiG-21PF khả năng sống sót gần như chắc chắn.

Theo các số liệu của Việt Nam thì trong 4 tháng đầu năm 1966 đã có 11 máy bay Mỹ và 9 chiếc MiG-17 Bắc Việt bị bắn hạ trong các trận không chiến. Sau khi các MiG-21 vào trận , đến cuối năm đó người Mỹ mất thêm 47 máy bay, còn tổn thất của phía Không quân VNDCCH là 12 máy bay.

Vì con số tổn thất ngày càng tăng nên Bộ Tư lệnh Mỹ tăng số lượng các tốp máy bay hộ tống và tổ chức các dợt không kích ồ ạt nhằm vào các sân bay đóng quân của các máy bay tiêm kích Bắc Việt.

Tuy vậy,cả trong năm 1967, tỷ lệ tổn thất trong các trận không chiến vẫn nghiêng về phía bất lợi cho Mỹ. Tổng cộng Không quân Bắc Việt đã hạ được 124 máy bay Mỹ và mất 60 MiG. Trong 3 tháng đầu năm 1968, Không quân tiêm kích Quân đội nhân dân Việt Nam đã hạ tới 44 máy bay Mỹ trong các trận không chiến.

Mặc dù các phi công tiêm kích Việt Nam phải hoạt động trong những điều kiện cực kỳ phức tạp. Các phi công Mỹ bao giờ cũng có ưu thế số đông, và thường được đào tạo- huấn luyện tốt hơn.

Nhưng mặt khác, các phi công Không quân VNDCCH lại có động cơ chiến đấu tốt hơn, họ không sợ phải đối đầu với đối phương có ưu thế về quân số. Thêm nữa, người Việt Nam thay đổi chiến thuật một cách rất linh hoạt, và vì thế đã lập được những thành tích rất đánh nể trong việc đánh trả cuộc chiến tranh đường không của Không quân Mỹ.

Mặc dù chịu tổn thất, nhưng nhờ sự hỗ trợ của Liên Xô và Trung Quốc nên lực lượng Không quân Bắc Việt Nam ngày càng mạnh. Khi bắt đâu cuộc chiến tranh chống phá hoại đường không, Không quân VNDCCH có 36 phi công và 36 chiếc tiêm kích MiG.

Đến năm 1968, Bắc Việt Nam đã có 2 trung đoàn không quân, số lượng các phi công tăng gấp đôi, số lượng máy bay tiêm kích- tăng gấp 5 lần. Trước khi tiến hành các chiến dịch ném bom ồ ạt Bắc Việt Nam, người Mỹ có đầy đủ thông tin về việc VNDCCH có trong trang bị các máy bay tiêm kích và tổ hợp tên lửa phòng không.

Các máy bay trinh sát vô tuyến kỹ thuật RB-66C Destroyer của Mỹ vào giữa tháng 7/1965 đã bắt được sóng của các radar dẫn đường tổ hợp tên lửa phòng không, còn các máy bay trinh sát RF-8А - đã chụp được các ảnh trận địa tên lửa Bắc Việt.

Máy bay tác chiến điện tử và trinh sát vô tuyến điện tử RB-66C của Mỹ.

Tuy nhiên, Bộ tư lệnh Mỹ đã không quá quan tâm tới các tổ hợp tên lửa phòng không vì cho rằng SA-75M được chế tạo để đối phó với các máy bay ném bom và máy bay trinh sát tầm cao, và chúng ( SA-75M) không tạo ra mối nguy hiểm cho các máy bay không quân chiến thuật và không quân hạm (không quân hải quân).

Nhưng thực tế cho thấy là các tên lửa phòng không có điều khiển V-750V( các phi công Mỹ gọi là “cột đường dây điện thoại bay”) tỏ ra cực kỳ nguy hiểm đối với tất cả các kiểu máy bay Mỹ tham gia không kích các mục tiêu trên lãnh thổ Bắc Việt Nam.

Theo số liệu của phía Xô Viết, ngày 24/7, 2 tiểu đoàn tên lửa Bắc Việt đã phóng 4 quả đạn tên lửa và bắn hạ 3 máy bay tiêm kích- ném bom F-4С Phantom II. Những “Con ma” mang bom này đang bay trong đội hình sát nhau ở độ cao 2.000 m. Người Mỹ chỉ thừa nhận có 1chiếc F-4C bị tên lửa phòng không bắn rơi, còn 2 chiếc khác chỉ bị thương.

Trong giai đoạn tác chiến đầu tiên của SA-75, công tác bảo dưỡng và điều khiển các tổ hợp tên lửa phòng không do các chuyên gia Xô Viết trực tiếp đảm nhiệm. Mỗi tiểu đoàn hỏa lực với các chuyên gia Xô Viết thường có quân số 35-40 người.

 Sau cú sốc do tổ hợp tên lửa phòng không Bắc Việt gây ra, người Mỹ bắt đầu nghiên cứu tìm các biện pháp đối phó. Các biện pháp đối phó chủ yếu là cơ động tránh tên lửa và không kích dữ dội những trận địa tên lửa đã bị máy bay Mỹ phát hiện.

Trong những điều kiện như vậy, (đối với các đơn vị tên lửa phòng không Việt Nam) các biện pháp ngụy trang và chế độ im lặng vô tuyến giữ một vai trò hết sức quan trọng. Ngay sau khi phóng tên lửa, các tiểu đoàn phải ngay lập tức rời trận địa, nếu không sẽ bị các đòn công kích- ném bom của máy bay Mỹ hủy diệt.

Đến tháng 12/1965, theo số liệu của phía Mỹ, đã có 8 tiểu đoàn tên lửa phòng không SA-75M Bắc Việt bị loại khỏi vòng chiến. Nhưng cũng có rất nhiều trường hợp không quân Mỹ tấn công bắn phá rất ác liệt các trận địa giả với các tên lửa làm bằng cót tre đan.

Các khẩu đội tên lửa Xô Viết và Việt Nam tuyên bố đã hạ 31 máy bay, nhưng người Mỹ chỉ thừa nhận mất 13 chiếc. Theo hồi ký của các cố vấn Xô Viết thì thường đối với mỗi tiểu đoàn tên lửa phòng không Bắc Việt bị loại khỏi vòng chiến đấu, trước đó nó đã bắn hạ trung bình 5-6 máy bay Mỹ.

Khẩn trương vào vị trí chiến đấu

Trong cả năm 1966, Bộ đội phòng không VNDCCH thành lập mới 4 trung đoàn tên lửa phòng không. Theo các nguồn số liệu Xô Viết, đến tháng 3/1967, các đơn vị tên lửa phòng không Việt Nam đã tiến hành 445 lần phóng tác chiến, tiêu hao 777 quả đạn tên lửa.

Thứ Tư, 18/07/2018 07:24

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện