Phòng không Việt Nam đối đầu bộ 3 mạnh nhất Mỹ

(Hồ sơ) - Phòng không Việt Nam đối đầu cả Không quân chiến lược, Không quân chiến thuật và Không quân hải quân Mỹ.

Vì đến cuối năm 1972 đó phần lớn các máy bay ném bom chiến lược Mỹ được trang bị máy phát nhiễu chủ động băng tần rộng công suất cực mạnh, các sỹ quan điều khiển (Bắc Việt) nhiều lúc không thể bám được mục tiêu nên đã dẫn tên lửa vào trung tâm vùng nhiễu.

Kết quả là trong đêm hôm đó (19/12), Bộ đội phòng không Bắc Việt Nam đã bắn hạ 6 máy bay B-52, bắn bị thương một số chiếc khác.

Bộ đội tên lửa cũng đã phát hiện ra rằng nếu phóng nhiều tên lửa phòng không có điều khiển vào cùng một mục tiêu thì các phương tiện tác chiến điện tử (của B-52) không thể đảm bảo khả năng vô hiệu hóa hoàn toàn các tên lửa phòng không.

Do các không đoàn của Bộ tư lệnh không quân chiến lược Mỹ phải gánh chịu những tổn thất đáng kể (trong những ngày đầu “ra quân”), Bộ Tư lệnh Mỹ buộc phải tạm dừng các đợt ném bom Bắc Việt trong vòng 2 ngày đêm để nghiên cứu thay đổi chiến thuật và các kỹ sư Mỹ khẩn trương hoàn thiện các phương tiện- thiết bị tác chiến điện tử.

Nhưng trong thời gian đó máy bay trinh sát vô tuyến kỹ thuật Mỹ vẫn liên tục cất cánh để sục tìm các trận địa tên lửa phòng không và các đài radar Bắc Việt để sau đó để các phương tiện tác chiến điện tử Mỹ chế áp hoặc máy bay cường kích tiêu diệt.

Người Mỹ tạm thời dừng không áp dụng chiến thuật bay thành các nhóm lớn và chỉ điều từng tốp gồm 9-30 máy bay ném bom đi thực hiện nhiệm vụ.

Đòn tấn công đường không ồ ạt tiếp theo được nối lại vào ngày 26/12. Lần này có tới 78 máy bay ném bom chiến lược B-52G cất cánh từ căn cứ không quân, “Andersen”, gần như cùng lúc với thêm 42 chiếc B-52D nữa cất cánh từ sân bay Utapao (Thái Lan). Những máy bay ném bom Mỹ này cắt bom vào 10 mục tiêu quanh thủ đô Hà Nội.

Trong đợt không kích này, Mỹ thử áp dụng chiến thuật mới- tiến hành 7 đợt công kích, mỗi đợt có từ 5-6 tốp tham gia, mỗi tốp gồm 3 chiếc bay đến ném bom mục tiêu từ các hướng khác nhau và bay trên các độ cao khác nhau.

Xác xuất bị tổn thương của các máy bay ném bom chiến lược Mỹ các biến thể khác nhau cũng khác nhau.

Các chuyên gia nhận xét rằng B-52D do được trang bị thiết bị phát nhiễu ALT-28ЕСМ nên ít bị tổn thương so hơn B-52G không có thiết bị tương tự.

Để bảo vệ mình, các máy bay không quân chiến thuật và không quân hải quân Mỹ buộc phải mang thêm các container thiết bị tác chiến điện tử treo dưới cánh nên phải giảm bớt trọng lượng tác chiến (bom).

Các máy bay tiêm kich- ném bom F-105 Thunderchief đang thả bom. Bay đầu tốp bay tấn công là máy bay phát nhiễu ЕВ-66 Destroyer

Để hỗ trợ các máy bay tiêm kích - máy bay ném bom mang trọng lượng tác chiến lớn, Không quân Mỹ thường sử dụng các máy bay trinh sát vô tuyến điện tử và tác chiến điện tử B-66 Destroyer.

Ngoài ra, trên các tuyến bay của máy bay tấn công, các máy bay trinh sát và tác chiến điện tử cũng thả hàng chục tấn lá nhôm mỏng để làm mù các radar quan sát Bắc Việt–trong trường hợp bị thả nhiễu nhiều như vậy, chúng (radar) gần như không thể phát hiện các máy bay Mỹ, còn những radar dẫn đường rất khó dẫn tên lửa đến mục tiêu.

Sử dụng không quân tiêm kích để đánh chặn các “pháo đài chiến lược” Mỹ cũng là một nhiệm vụ không hề đơn giản. Tuy trông có vẻ như các “pháo đài bay” tốc độ thấp, cồng kềnh bay thành từng tốp lớn là các mục diêu dễ xơi đối với các máy bay tiêm kích siêu âm MiG-21.

Nhưng trên thực tế, các phi công MiG Bắc Việt đã không thể đạt được những kết quả đến mức buộc người Mỹ phải dừng sử dụng B-52.

Những nỗ lực đánh chặn B-52 đầu tiên bằng MiG-21PF đã từng được Không quân Bắc Việt thực hiện trong tháng 3/1969.

Nhưng người Mỹ đã nhanh chóng phát hiện các máy bay tiêm kích Bắc Việt xuất hiện trên một sân bay dã chiến cách không xa khu phi quân sự và lập tức ném bom phá hủy sân bay này.

Trong nửa đầu năm 1971, các MiG cũng đã tiến hành nhiều đợt công kích (B-52) nhưng đều chưa thành công.

Đánh chặn “Các pháo đài bay” vào ban đêm là cực kỳ phức tạp vì chế áp điện tử mạnh. Người Mỹ không chỉ phát nhiễu nhằm vào các radar quan sát P-35, mà còn làm điếc các kênh vô tuyến dẫn đường cho máy bay tiêm kích.

Biện pháp sử dụng radar trên MiG-21PF cũng không đem lại kết quả, Khi mở radar RP-21 của máy bay MiG, màn hình trắng xóa do bị nhiễu nặng. Ngoài ra, sóng radar trên MiG bị các radar cảnh giới lắp trên các máy bay ném bom Mỹ bắt được ngay và máy bay dánh chặn MiG lập tức bị lộ.

Và ngay sau đó, các pháo thủ trên máy bay B-52 và các máy bay tiêm kích Mỹ bay hộ tống sẽ vào cuộc để vô hiệu hóa MiG.

Lần đầu tiên MiG-21PF tấn công thành công B-52 là vào ngày 20/10/1971.

Chiếc tiêm kích MiG-21PF được đài mặt đất dẫn dường đến máy bay ném bom, phi công bật radar RP-21 trong một khoảng thời gian rất ngắn để xác định lại vị trí mục tiêu và sau đó đã phóng quả tên lửa R-3S từ cự ly tối đa.

Đầu tự dẫn hồng ngoại của tên lửa bắt được nhiệt của động cơ B-52 và đã dẫn tên lửa lao vào máy bay, tuy nhiên,quả tên lửa có điều khiển cỡ nhỏ được thiết kế để tiêu diệt các mục tiêu là máy bay bay chiến thuật này dù bắn trúng B-52 nhưng vẫn không hạ được nó-chiếc máy bay B-52 Mỹ bị thương này vẫn bay về đến căn cứ.

Trong chiến dịch Linebacker II, các máy bay tiêm kích- đánh chặn Bắc Việt đã hạ được 2 máy bay ném bom chiến lược Mỹ.

Trong lần này, Bắc Việt sử dụng các máy bay MiG-21MF hiện đại hơn (so với MiG-21PF-ND). Số phận đã mỉm cười với phi công Phạm Tuân thuộc Trung đoàn máy bay tiêm kích 921 vào đêm 27/12.

Do có hoạt động phối hợp ăn ý với đài radar dẫn đường, phi công Việt Nam Phạm Tuân đã lách qua được đội hình máy bay tiêm kích Mỹ hộ tống và tiếp cận được một tốp 3 chiếc B-52 đang bay không bật đèn tín hiệu hàng không.

Thứ Sáu, 10/08/2018 13:33

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện