Sao vũ khí Liên Xô cấp cho Việt Nam cũ hơn A-rập?

(Hồ sơ) - Ngay sau khi Mỹ dừng không kích Miền Bắc vào tháng 3/1968, khả năng chiến đấu của các lực lượng phòng không Bắc Việt Nam tăng rất nhanh.

Mặc dù các pháo 85 ly chủ yếu dùng để dựng bức tường lửa, nhưng chúng đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống Không quân Mỹ.

Tuy vậy, cũng phải nhấn mạnh lượng đạn pháo 85 ly đã sử dụng (trong chiến tranh Việt Nam) là rất lớn. Vào thời kỳ Không quân Mỹ đánh phá ác liệt nhất, tính trung bình mỗi ngày đêm Liên Xô chuyển qua lãnh thổ Trung Quốc theo đường sắt sang Việt Nam ít nhất một tàu chở đạn pháo.

Trong những năm 60, loại pháo 100 ly KS-19 có trong trang bị các đơn vị phòng không Việt Nam được coi là tương đối hiện đại. Hỏa lực của một đại đội sáu khẩu pháo được điều khiển tập trung bằng radar điều khiển pháo SON-4 (СОН-4).

Radar này được chế tạo năm 1947 theo mẫu radar Mỹ SCR-584 Mỹ cung cấp cho Liên Xô theo Chương trình Lend-lease trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Mặc dù các tính năng kỹ- chiến thuật của pháo 100 ly cho phép bắn các mục tiêu trên không đang bay ở độ cao 15.000 m với tốc độ đến 1.200 km/h, nhưng các đài phát nhiễu trên các máy bay Mỹ bắt đầu được sử dụng rộng rãi từ năm 1968 thường vô hiệu hóa hoạt động của các radar điều khiển hỏa lực pháo phòng không và vì vậy pháo phòng không (100 ly) cũng chủ yếu là bắn chặn hoặc bắn theo các phần tử mục tiêu nhận được từ máy đo xa quang học.

Vì thế nên hiệu quả hỏa lực không cao. Nói chung, đối với radar điều khiển SON- 9A sử dụng với pháo 57 ly S-60 thì tình hình cũng tương tự như vậy.

Tổ hợp pháo phòng không tự hành ZSU-23-4 trên trận địa

Trong giai đoạn cuối chiến tranh, Quân đội Nhân dân Việt Nam bắt đầu tiếp nhận tổ hợp tên lửa phòng không tầm thấp S-125 có chức năng chủ yếu là bảo vệ các sân bay; tổ hợp pháo phòng không tự hành ZSU- 23-4 “Shilka” và súng máy phòng không xe kéo hai nòng ZU-23.

Tuy nhiên, gần như không có số liệu nào để tra cứu về hiệu quả sử dụng những vũ khí đó trong tác chiến tại Chiến trường Đông Nam Á (Việt Nam).

ZU-23

Nếu tổ hợp tên lửa phòng không S-125, “Shilka” và súng máy phòng không xe kéo hai nòng xuất hiện tại Bắc Việt Nam sớm hơn vài năm, tổn thất của Không quân Mỹ và Không quân Nam Việt Nam chắc chắn đã có thể lớn hơn nhiều và vì thế, dĩ nhiên, sẽ có ảnh hưởng mạnh đến thời điểm kết thúc cuộc chiến.

Rất nhiều các nhà sử học nghiên cứu về Chiến tranh Việt Nam đều nhận thấy một thực tế là cùng trong khoảng thời gian đó Liên Xô đã cung cấp cho người A rập những loại vũ khí và khí tài phòng không hiện đại hơn nhiều (so với những vũ khí- khí tài phòng không cung cấp cho Việt Nam).

Một ví dụ cụ thể,- phiên bản xuất khẩu của tổ hợp tên lửa phòng không “Kub” – “Kvadrat” chỉ mãi đến cuối những năm 70 mới có mặt tại Việt Nam, các tổ hợp radar RPK-1 “Vaza” với những tình năng vượt trội so với radar điều khiển hỏa lực pháo phòng không SON-9A và SON-4 cũng phải đến cuối những năm 70 mới được trang bị cho Bộ đội phòng không Việt Nam.

Tại sao lại như vậy?

Lý dó là vì giới lãnh đạo Xô Viết đã rất quan ngại (và sự quan ngại đó là hoàn toàn có sơ sở) trước khả năng vũ khí công nghệ cao hiện đại (của Liên Xô) sẽ rơi vào tay Trung Quốc,- như đã biết, đến cuối những năm 60 thì Trung Quốc đã công khai tỏ thái độ cực kỳ thù địch với Liên Xô.

Các đại diện Xô Viết tại VNDCCH phụ trách vấn đề cung cấp phương tiện kỹ thuật quân sự, vũ khí- khí tài, đạn dược cho Việt Nam đã nhiều lần phát hiện (và báo cáo về Matxcova) những trường hợp mất mát hàng quân sự gửi cho Việt Nam khi chúng quá cảnh qua lãnh thổ Trung Quốc bằng đường sắt.

Những hàng quân sự bị mất nhiều nhất là các đài radar dẫn dường tổ hợp tên lửa phòng không, đạn tên lửa phòng không, radar quan sát, radar điều khiển hỏa lực pháo binh, máy đo cao vô tuyến và tiêm kích MiG-21.

Và như vậy, sau khi chấm dứt hợp tác quân sự với Liên Xô, Trung Quốc đã không hề đỏ mặt khi đánh cắp trắng trợn vũ khí – khí tài quân sự Liên Xô nhằm thực hiện mục tiêu hiện đại hóa Không quân và Bộ đội phòng không của mình.

Chính vì thực tế đó, rất nhiều mẫu trang bị kỹ thuật quân sự và vũ khí được Liên Xô chuyển đến Việt Nam bằng đường biển nên xác xuất rủi ro cũng cao hơn nhiều.

Không quân Mỹ liên tục đánh phá cảng Hải Phòng, rải thủy lôi phong tỏa lối vào càng,- thêm nữa, người nhái biệt kích cũng hoạt động mạnh tại khu vực này.

Bộ Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam vốn dày dạn kinh nghiệm chiến tranh du kích nên rất coi trọng nhiệm vụ tăng cường khả năng phòng không cho các phân đội nhỏ hoạt động độc lập cách xa các lực lượng chủ lực.

Vào giữa những năm 60, phía Việt Nam đã đề nghị giới lãnh đạo Liên Xô cung cấp cho họ các tổ hợp phòng không nhẹ có thể đối phó hiệu quả với Không quân Mỹ trong điều kiện chiến tranh du kích trong rừng rậm nhiệt đới và thuận tiện cho vận chuyển, mang vác bằng sức người.

Ngay sau khi nhận được đơn đặt hàng nói trên của phía Việt Nam, trong năm 1967, Liên Xô đã ngay lập tức triển khai sản xuất hàng loạt tổ hợp phòng không 14,5 ly ZGU-1 đã được thử nghiệm thành công từ năm 1956.

Với trọng lượng tác chiến 220 kg, tổ hợp có thể tháo thành các bộ phận, bộ phận nặng nhất cũng chỉ dưới 40 kg.

ZGU-1 cũng có thể được vận chuyển trên thùng xe tải. Kinh nghiệm tác chiến ZGU-1 cho thấy nó còn cỏ thể bắn ngay trong hành tiến. Người Việt Nam thường sử dụng tổ hợp pháo phòng không này để đi kèm bảo vệ các đoàn xe vận tải và đoàn xe quân sự và bảo vệ cho các địa điểm tập kết bộ đội.

Tổ hợp súng máy phòng không 14,5 ly Type 56

Đồng thời với việc được Liên Xô cung cấp tổ hợp ZGU-1 có thể tháo rời và vận chuyển trên một quãng đường có cự ly lớn, Bắc Việt Nam cũng nhận từ Trung Quốc vài trăm súng máy phòng không bốn nòng 14,5 ly Type 56.

Thứ Sáu, 27/07/2018 06:35

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện