Cách Mỹ chống dội bom lên đầu từ Bắc Cực

(Lực lượng vũ trang) - Trong loạt bài sau đây, xin được cung cấp một số thông tin về lịch sử hình thành, phát triển và sức mạnh hiện tại của hệ thống phòng không Bắc Mỹ.

Bắc Mỹ tức là cả Canada, nhưng chủ yếu là Mỹ. Các số liệu và hình ảnh từ “Bình luận quân sự” (Nga) tháng 12/2016.

Phần một: Lịch sử phát triển

Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, trong trang bị của Các lực lượng vũ trang Mỹ còn một khối lượng rất lớn pháo phòng không cỡ vừa và cỡ lớn, súng máy phòng không cỡ nhỏ và súng máy phòng không 12,7 ly.

Đến năm 1947, gần một nửa trận địa phòng không pháo 90 và 120 ly trên lãnh thổ Mỹ đã chấm dứt hoạt động. Các pháo phòng không xe kéo (cơ động) được đưa về các cơ sở bảo quản, còn các tổ hợp phòng không cố định được niêm cất tại chỗ.

Các pháo phòng không cỡ lớn được bảo quản ở các cơ sở ven bờ biển, tại các khu vực gần cảng biển và căn cứ hải quân. Sự cắt giảm cũng liên quan đến Không quân phòng không, phần lớn các máy bay tiêm kích động cơ pitông sản xuất trong những năm chiến tranh được thanh lý hoặc được chuyển giao cho các đồng minh.

Lý do là do đến giữa những năm 1950, Liên Xô không có các máy bay ném bom có thể thực hiện nhiệm vụ tác chiến trên lục địa Bắc Mỹ và lại bay về Liên Xô.

Tuy nhiên, sau khi Mỹ mất độc quyền bom hạt nhân vào năm 1949, giới lãnh đạo Mỹ không thể loại trừ kịch bản là trong trường hợp xảy ra xung đột quân sự giữa Mỹ và Liên Xô, các máy bay ném bom động cơ pitông Tu-4 Xô Viết có thể thực hiện các chuyến bay ném bom liều chết đến Mỹ.

Cuộc chạy đua vũ trang sau chiến tranh bắt đầu tăng tốc. Ngày 1/11/1952, Mỹ đã cho thử nghiệm thiết bị nổ nhiệt hạch đầu tiên. 8 tháng sau đó Liên Xô cũng thử nghiệm bom nhiệt hạch ký hiệu RDS-6s. Khác với thiết bị thử nghiệm của Mỹ có chiều cao bằng ngôi nhà hai tầng, bom nhiệt hạch RDS -6s Liên Xô gọn nhẹ có thể sử dụng trong tác chiến.

Trong giữa những năm 50, mặc dù Mỹ có ưu thế nhiều lần về số lượng các phương tiện mang và bom hạt nhân, xác xuất các máy bay tầm xa Xô Viết có thể bay tới phần lãnh thổ lục địa của Mỹ ngày càng tăng.

Vào đầu năm 1955, các đơn vị của Không quân tầm xa Liên Xô bắt đầu tiếp nhận các máy bay ném bom M-4 (tổng công trình sư V.M. Miasishev) và sau đó là máy bay hiện đại hóa 3M và Tu-95 (Phòng thiết kế A.N. Tupolev) .

Những chiếc máy bay này đã có thể chắc chắn bay đến Lục địa Bắc Mỹ và sau khi thực hiện đòn tấn công hạt nhân còn đủ nhiên liệu để bay về Liên Xô.

Tất nhiên, Mỹ không thể coi thường mối đe dọa này. Như đã biết, đường bay ngắn nhất từ lục đía Á- Âu đến Bắc Mỹ là tuyến qua Bắc Cực, và Mỹ đã xây dựng ở hướng này một số tuyến phòng không.

Cach My chong doi bom len dau tu Bac Cuc
Đài radar của tuyến DEW-trên đảo Shemya thuộc Quần đảo Aleut

Tại Alaska, Grinland và Đông Bắc Canada, tại những hướng mà các máy bay ném bom Xô Viết có nhiều khả năng xâm nhập nhất, Mỹ đã cho xây dựng tuyến DEW - mạng lưới các trạm radar cố định được kết nối với nhau và với các sở chỉ huy phòng không bằng các cáp liên lạc và các đài vô tuyến chuyển tiếp.

Tại một số các trạm, ngoài đài radar phát hiện các mục tiêu trên không, sau này còn lắp đặt các đài radar cảnh báo đòn tấn công tên lửa.

Cach My chong doi bom len dau tu Bac Cuc
Sơ đồ bố trí các trạm radar trên tuyến DEW

Để đối phó với hoạt động của các máy bay ném bom Xô Viết, vào giữa những năm 1950, Mỹ đã thành lập “Lực lượng ngăn chặn” để kiểm soát không phận dọc bờ biển phía Tây và phía Đông nước Mỹ.

Đó là một mạng cảnh báo thống nhất tập trung bao gồm các đài ra dar ven bờ, các tàu giám sát radar và các khinh khí cầu ZPG-2W и ZPG-3W .

Chức năng chủ yếu của “Lực lượng ngăn chặn” bố trí trên bờ biển Đại Tây Dương và Thái Bình Dương của Mỹ là kiểm soát không phận nhằm cảnh báo sớm trong trường hợp các máy bay Xô Viết tiếp cận không phận Mỹ. “Lực lượng ngăn chặn” như vừa nói là thành tố bổ sung cho các đài radar trên tuyến DEW bố trí tại Alaska, Canada và Grinland .

Cach My chong doi bom len dau tu Bac Cuc
Máy bay kiểm soát và cảnh báo sớm ( AWACS) EC-121 đang bay phía trên tàu khu trục tuần tiễu radar

Các tàu tuần tiễu radar đã xuất hiện từ những năm Chiến tranh thế giới thứ hai và được Hải quân Mỹ sử dụng chủ yếu trên Thái Bình Dương trong đội hình các cụm tàu lớn để phát hiện kịp thời các máy bay Nhật Bản.

Những tàu này được trang bị các radar: AN/SPS-17, AN/SPS-26, AN/SPS-39, AN/SPS-42 với cự ly phát hiện mục tiêu 170-350km.

Thường các tàu này trực chiến đơn lẻ cách xa bờ vài trăm km và theo quan điểm của các đô đốc Mỹ, chúng rất dễ bị tổn thương trước các đòn tấn công bất ngờ của các máy bay chiến đấu và tàu ngầm đối phương. Nhằm giảm xác xuất bị tổn thương của các phương tiện radar trên biển, vào những năm 1950, Mỹ triển khai “Chương trình Migraine”.

Theo chương trình này, các radar được lắp trên các tàu ngầm. Còn tàu ngầm - sau khi phát hiện kẻ thù trên màn hình radar, truyền dữ liệu cảnh báo và lặn ngay xuống biển để tránh bị đối phương tấn công.

Ngoài việc cải hoán các tàu ngầm đóng trong Chiến tranh thành tàu ngầm radar, Hải quân Mỹ nhận 2 tàu ngầm điện –diezel chuyên dụng: USS Sailfish (SSR-572) và USS Salmon (SSR-573).

Tuy nhiên, tàu ngầm điện –diesel không có khả năng trực chiến trong một thời gian dài trên biển và vì tốc độ không lớn nên không thể tham gia vào đội hình các cụm tàu tác chiến tốc độ cao, hơn nữa chi phí khai thác quá tốn kém so với các tàu nổi.

Chính vì thế mà Mỹ tính đến chế tạo các tàu ngầm hạt nhân chuyên dụng. Chiếc tàu ngầm nguyên tử đầu tiên mang radar quan sát tình huống không gian là tàu USS Triton (SSRN-586).

Thứ Tư, 18/01/2017 07:22


Báo Đất Việt trên Facebook
.


Sự Kiện