Sức mạnh phòng không Bắc Mỹ: Đầu đạn hạt nhân đánh chặn

(Lực lượng vũ trang) - Trong nửa đầu những năm 1950, thành phần chủ yếu trong lực lượng phòng không lục địa Bắc Mỹ là các máy bay phản lực đánh chặn.

>>Kì đầu: Cách Mỹ chống dội bom lên đầu từ Bắc Cực

Để phòng thủ chống tấn công từ trên không cho một khu vực lãnh thổ rộng lớn của Bắc Mỹ, đến năm 1951 Mỹ đã có gần 900 máy bay tiêm kích có chức năng đánh chặn các máy bay ném bom chiến lược Xô Viết trực chiến.

Ngoài các máy bay chuyên nhiệm vụ đánh chặn, còn có thể huy động một lực lượng rất lớn các máy bay tiêm kích của Không quân và Hải quân. Nhưng các máy bay không quân chiến thuật và không quân Hải quân lúc đó không được trang bị hệ thống tự động dẫn tới mục tiêu.

Vì vậy, để tăng cường sức mạnh cho Không quân tiêm kích, Mỹ quyết định thiết kế và triển khai các tổ hợp tên lửa phòng không.

Những chiếc mqưy bay tiêm kích – đánh chặn Mỹ đầu tiên chuyên thực hiện nhiệm vụ tiêu diệt các máy bay ném bom chiến lược (Liên Xô) là F-86D Sabre, F-89D Scorpion и F-94 Starfire.

Suc manh phong khong Bac My: Dau dan hat nhan danh chan
Phóng tên lửa hàng không không điều khiển từ máy bay F-94.

Để có thể tự phát hiện các máy bay ném bom, các máy bay đánh chặn Mỹ được trang bị radar. Để tiêu diệt mục tiêu đối phương, thời gian đầu các máy bay này sử dụng tên lửa không điều khiển lớp “không đối không” 70 mm Mk 4 FFAR.

Đến cuối những năm 40, các chuyên gia quân sự Mỹ tính toán rằng một giàn phóng tên lửa không điều khiển có thể tiêu diệt máy bay ném bom trong khi máy bay đánh chặn không cần phải tiếp cận máy bay mục tiêu ở cự ly sát thương của pháo trên máy bay ném bom.

Kết luận này rút ra từ trên thực tế là Không quân Đức quốc xã đã rất thành công trong sử dụng các máy bay tiêm kích phản lực Ме-262 mang tên lửa không điều khiển 55-mm НАР R4M trong Thế chiến Hai. Tên lửa không điều khiển Mk 4 FFAR nói trên cũng được trang bị cho máy bay đánh chặn siêu âm F-102 và CF-100 của Không quân Canada.

Tuy nhiên, nhưng để đối phó với các máy bay ném bom động cơ turbin phản lực và turbin cánh quạt có tốc độ bay lớn hơn nhiều so với “các pháo đài bay” động cơ pitông, tên lửa không điều khiển không phải là loại vũ khí hiệu quả nhất.

Mặc dù nếu máy bay ném bom bị tên lửa không điều khiển 70 mm bắn trúng sẽ bị tiêu diệt, nhưng độ tản mát (sai số) của một dàn 24 quả tên lửa bắn từ ngoài cự ly bắn hiệu quả tối đa của pháo 23 ly AM-23 trên máy bay Liên Xô bằng diện tích của một sân bóng đá – vì thế xác xuất tiêu diệt mục tiêu không cao.

Để giải quyết vấn đề, Không quân Mỹ tích cực tìm các loại vũ khí hàng không thay thế.

Đến cuối những năm 1950, tên lửa không điều khiển AIR-2A Genie lớp “không đối không” mang đầu tác chiến hạt nhân công suất 1,25 Kt và cự ly bắn đến 10 km được thiết kế và thử nghiệm thành công. Mặc dù “Genie” có cự ly bắn không lớn, nhưng ưu thế của nó là có độ tin cậy cao và không bị nhiễu tác động.

Suc manh phong khong Bac My: Dau dan hat nhan danh chan
Treo tên lửa AIR-2A Genie cho máy bay tiêm kích - đánh chặn

Năm 1956, tên lửa AIR-2A được phóng thành công lần đầu tiên từ máy bay đánh chặn Northrop F-89 Scorpion và đầu năm 1957 được đưa vào trang bị.

Đầu tác chiến tên lửa được kích nổ bằng ngòi nổ điều khiển từ xa ngay sau khi động cơ tên lửa ngừng hoạt động.

Khi đầu đạn nổ, nó đảm bảo chắc chắn tiêu diệt mục tiêu trong một bán kính 500m. Nhưng nếu sử dụng AIR -2A để tiêu diệt máy bay ném bom bay cao và với tốc độ lớn, phi công tiêm kích cần phải tính toán rất chính xác vị trí phóng.

Suc manh phong khong Bac My: Dau dan hat nhan danh chan
Máy bay tiêm kích – đánh chặn F-89H mang tên lửa có điều khiển AIM-4 Falcon

Ngoài các tên lửa không điều khiển, các máy bay tiêm kích phòng không còn được trang bị tên lửa “không đối không” AIM-4 Falcon cự ly phóng 9-11 km (đưa vào trực chiến năm 1956). Tùy vào các biến thể, tên lửa có thể được trang bị hệ thống dẫn đường radar bán chủ động hoặc hồng ngoại.

Tất cả đã có tới 40.000 quả tên lửa kiểu Falcon được xuất xưởng. Mãi đến năm 1988, các tên lửa này được đưa ra khỏi trang bị của Không quân Mỹ cùng với các máy bay đánh chặn F-106.

Phiên bản tên lửa mang đầu tác chiến hạt nhân có ký hiệu AIM -26 Falcon. Lý do để Mỹ thiết kế và đưa vào trang bị kiểu tên lửa có điều khiển này là Không quân Mỹ muốn có tên lửa dẫn đường radar bán chủ động có khả năng tiêu diệt các máy bay ném bom siêu âm khi tấn công chính diện.

Kết cấu AIM -26 về cơ bản giống AIM-4. Tên lửa mang đầu tác chiến hạt nhân chỉ dài hơn một chút nhưng nặng hơn đáng kể và có đường kính thân gần gấp đôi tên lửa đầu tác chiến thường. Nó có động cơ công suất lớn hơn và cự ly bắn tới 16 km. Đầu tác chiến hạt nhân W-54 sức công phá 0,25Kt , trọng lượng chỉ 23 kg.

Cuối những năm 40, đầu những năm 50, Canada cũng tự chế tạo nhiều kiểu máy bay tiêm kích – đánh chặn. Nhưng chỉ có máy bay đánh chặn CF-100 Canuck là được sản xuất hàng loạt và đưa vào trang bị năm 1953.

Tổng cộng, Không quân Canada đã nhận hơn 600 chiếc CF-100 Canuck. Cũng như các máy bay đánh chặn Mỹ được thiết kế trong thời gian này, CF-100 Canada được trang bị radar phát hiện mục tiêu và ngắm bắn APG-40.

Để tiêu diệt các máy bay ném bom, CF-100 Canuck sử dụng 58 quả tên lửa không điều khiển cỡ 70 ly lắp trên 2 cánh máy bay.

Suc manh phong khong Bac My: Dau dan hat nhan danh chan
Phóng tên lửa không điều khiển từ máy bay tiêm kích- đánh chặn Canada CF-100

Trong những năm 1960, các đơn vị trên tuyến phòng thủ thứ nhất Không quân Canada thay CF-100 bằng máy bay siêu âm F-101B Voodoo do Mỹ sản xuất, nhưng một số CF-100 vẫn được sử dụng làm máy bay đánh chặn tuần tiễu đến giữa những năm 1970.

Thứ Bảy, 21/01/2017 07:50


Báo Đất Việt trên Facebook
.


Sự Kiện