Sức mạnh phòng không Thụy Điển: Chuẩn bị chiến tranh

(Lực lượng vũ trang) - Sau khi bài “Tiềm lực quốc phòng Thụy Điển–cơn đau đầu của Nga” được DVO đăng tải gây nhiều tranh luận.

Một số bạn đọc có ý kiến tranh luận trái chiều nhau về sức mạnh quân sự của quốc gia trung lập Thụy Điển. Có lẽ, tốt hơn hết là dẫn ra các số liệu – thay vì nhận xét và trong các bài sau đây chúng ta sẽ nói về một trong những thành phần cấu thành tiềm lực quốc phòng Thụy Điển – đó là lực lượng phòng không nước này (cả công nghiệp sản xuất và trang bị cho quân đội) .

Bài viết sẽ dài và tương đối chi tiết, có một số thông tin trùng lắp với bài trước nên chúng tôi rất trông chờ vào sự nhẫn nại và khoan dung của độc giả. Các số liệu được dẫn lấy từ nguồn “Bình luận quân sự" (Nga) tháng 11/2016.

Nhưng trước hết, xin phép được làm rõ một ý của Oleg Kaptsov trong bài vừa nhắc tới ở trên: “Người Thụy Điển từ chối gia nhập NATO, nhưng cái giá của sự trung lập này, chúng ta (Liên Xô trước kia, Nga hiện nay) hiểu quá rõ qua những kinh nghiệm trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại”. Vậy cái giá đó là gì?

Suc manh phong khong Thuy Dien: Chuan bi chien tranh

Kể từ khi kết thúc các cuộc chiến tranh với Napoleon vào năm 1815, Thụy Điển bắt đầu theo đuổi chính sách trung lập. Do kết hợp một cách khôn khéo những đặc điểm vị trí địa- chính trị của mình trên bán đảo Xcandinavia với chính sách ngoại giao linh hoạt với các bên tham gia xung đột nên Thụy Điển giữa được vị thế trung lập chính thức trong cả hai cuộc chiến tranh thế giới.

Tuy nhiên, quan hệ đối với Liên Xô của Thụy Điển có một số khác biệt. Cụ thể, trong cuộc Chiến tranh mùa Đông năm 1939 -1940 (Chiến tranh Liên Xô – Phần Lan) Thụy Điển công khai hỗ trợ quân sự cho Phần Lan.

Quân đoàn Svenska frivilligkåren Thụy Điển với hơn 1.500 binh sỹ gồm cả các cựu chiến binh và quân nhân đang tại ngũ đã tham chiến cùng với Phần Lan. Thụy Điển cũng cung cấp những khoản tín dụng đáng kể cho Phần Lan, tổ chức quyên góp tiền và quần áo ấm cho binh sỹ Phần Lan.

Mặc dù vào thời gian đó các nhà ngoại giao Thụy Điển vẫn khẳng định nước này không là một bên tham gia xung đột và tiếp tục tuân thủ chính sách trung lập.

Trong Chiến tranh Đức – Nga (Chiến tranh vệ quốc) , các chuyến hàng quân sự của Đức được vận chuyển qua lãnh thổ Thụy Điển đến Phần Lan. Vào tháng 6-7 /1941, các đơn vị của Sư đoàn bộ binh Đức số 163 cùng với xe tăng và pháo binh đã được chuyển tới Phần Lan qua đường Thụy Điển.

Các binh sỹ Đức đi nghỉ phép từ Na Uy cũng được phép đi qua lãnh thổ Thụy Điển. Thụy Điển cung cấp quặng sắt cho Đức trong suốt cuộc chiến tranh. Đã có tới 12.000 quân Thụy Điển phục vụ trong Các lực lượng vũ trang Đức quốc xã.

Còn bây giờ, xin được chuyển sang nội dung chính.

Mấy nét chung: Đến đầu Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Thụy Điển có một quân đội được đánh giá là mạnh nhất tại Bắc Âu. Đến tháng 9/1939, Quân đội Thụy Điển có tới 110.000 sỹ quan và binh sỹ.

Khi các hoạt động tác chiến trở nên ác liệt tại Bắc Âu, Thụy Điển ban bố lệnh động viên và đến đầu năm 1945, đã có tới 600.000 sỹ quan và binh sỹ phục vụ trong Các lực lượng vũ trang nước này (hiện nay dân số Thụy Điển cũng chỉ gần 10 triệu người – chúng tôi không tìm thấy số liệu về dân số Thụy Điển trước và trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, nhưng Thụy Điển là một nước có biến động dân số - tăng giảm không lớn).

Suc manh phong khong Thuy Dien: Chuan bi chien tranh

Lực lượng phòng không Thụy Điển – lịch sử hình thành và phát triển

Năm 1939, Thụy Điển thành lập 2 trung đoàn phòng không được trang bị súng máy phòng không cỡ 20 ly M40, pháo phòng không 40 ly M/36, pháo phòng không 75 ly M30, pháo phòng không 75 ly M37 và pháo phòng không 105 ly M42, đèn chiếu sáng sục sạo mục tiêu 1.500 ly M37.

Đài radar đầu tiên của Thụy Điển là ER 3B được đưa vào trang bị từ năm 1944.

Suc manh phong khong Thuy Dien: Chuan bi chien tranh
Tổ hợp phòng không tự hành Lvkv m/43

Để bảo vệ các đơn vị trước các đòn tấn công từ trên không khi hành quân và ở tuyến tiền duyên, năm 1943, Thụy Điển đưa vào trang bị tổ hợp phòng không tự hành Lvkv m/43 (ảnh).

Lvkv m/43 được lắp trên khung gầm tăng Landsverk L-60 và có 2 súng máy phòng không trên tháp pháo.

Vào thời kỳ đó, đây là một tổ hợp phòng không rất mạnh. Tổ hợp Lvkv m/43 có trong biên chế của Quân đội Thụy Điển đến đầu những năm 1960.

Nếu như pháo phòng không của Hãng “Bofors” (Thụy Điển) được đánh giá là một trong những loại pháo phòng không tốt nhát thế giới, thì Không quân Thụy Điển lúc đó không thực sự mạnh.

Không quân tiêm kích Thụy Điển trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai là “bộ sưu tập” các máy bay tiêm kích do Mỹ , Anh , Hà Lan và Ý sản xuất.

Lực lượng nòng cốt của Không quân tiêm kích Thụy Điển lúc đó có: 40 máy bay Gloster Gladiator của Anh, 60 chiếc Р-35 của Mỹ, 130 chiếc Reggiane Re.2000 và Fiat CR.42bis Falco do Ý sản xuất. Vào thời gian đó (trước năm 1941) , trên thực tế tất cả các máy bay này đã rất lạc hậu.

Đến năm 1944, đối phương tiềm năng chủ yếu của Thụy Điển được xác định là Đức, còn sau đó – Liên Xô.

Sau khi Chiến tranh kết thúc, vào năm 1945, Mỹ bắt đầu cung cấp cho Thụy Điển các máy bay tiêm kích P-51D Mustang.

Tổng cộng Không quân Thụy Điển đã nhận 178 chiếc P-51D Mustang. Những chiếc máy bay này trực chiến đến năm 1954.

Thứ Tư, 21/12/2016 08:15


Báo Đất Việt trên Facebook
.


Sự Kiện