Lời nguyền dầu mỏ Liên Xô: Chết vì đôla phương Tây

(Hồ sơ) - Trên thế giới đang tồn tại một nghịch lý: có những nước nghèo về tài nguyên những lại mạnh về kinh tế.

Và cũng có những nước giàu tài nguyên nhưng nền kinh tế lại không mạnh, dễ bị tổn thương.

Đây không phải là một vấn đề lý luận cao xa gì để phải thành lập một hội đồng nghiên cứu, mà là một thực tế - đại diện cho nhóm thứ nhất có thể dẫn ra ở đây – Israel , Nhật Bản , Hàn Quốc.. Còn nhóm thứ hai ? tương đối nhiều.

Tại sao lại như vậy? Để tìm phần nào lời đáp cho câu hỏi này, chúng tôi xin lược dịch (vì khuôn khổ bài báo có hạn) bài viết của nữ học giả Nga, Tiến sỹ sử học Maria Slavkina với tiêu đề “Những cạnh sắc của vàng đen” đăng trên báo “ Bình luận quân sự” (Nga) ngày 9/1/2017 (trước đó đã được nhiều tờ báo Nga khác đăng tải) .

Sau khi đọc bài báo này, rất có thể ta sẽ có một liên tưởng nào đấy.

Sau đây là nội dung bài viết:

Những kỳ vọng không thành

Vào giữa những năm 1960, Liên Xô bắt đầu hiện thực hóa siêu dự án năng lượng - khai thác các mỏ dầu và khí đốt ở Tây Sibiri. Lúc đó có rất ít người tin rằng siêu dự án đó sẽ thành công bởi vì điều kiện địa hình phức tạp (đầm lầy) và khí hậu tại Tây Sibiri cực kỳ khắc nghiệt, hạ tầng cơ sở hoàn toàn chưa có.

Nhưng thành công đã vượt mọi mong đợi. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, nhờ chủ nghĩa anh hùng trong lao động của các kỹ sư và công nhân Xô Viết (ở dây không thể dùng từ khác được) Liên Xô đã xây dựng được cơ sở năng lượng mới cho đất nước tại Tây Sibiri.

Đến giữa những năm 1980, sản lượng khai thác dầu tại Sibiri đã chiếm hơn 60% sản lượng khai thác của toàn Liên bang, còn khí đốt - hơn 56%. Nhờ có dự án Tây Sibiri, Liên Xô trở thành quốc gia năng lượng hàng đầu thế giới. Năm 1975, Liên Xô khai thác gần 500 triệu tấn “vàng đen” và đã vượt “nhà vô địch Mỹ” đến thời điểm đó về sản lượng khai thác dầu.

Đối với những người tham gia dự án chinh phục Tây Sibiri thì việc khai thác các mỏ dầu và khi đốt cực lớn tại Sibiri cũng đồng nghĩa với việc tạo ra niềm hy vọng về một tương lai tươi sáng.

Họ đã rất thành tâm tin rằng: sức lao động của họ đã đem lại sự phồn vinh và đủ đầy cho đất nước. Ngay cả các nhà phân tích Mỹ lúc đó cũng đưa ra những dự báo rất lạc quan. Ví dụ, năm 1972, hai nhà nghiên cứu Mỹ là L. Rox và R. Rangon đã hình dung ra viễn cảnh là sau hai thập kỷ nữa Liên Xô vẫn là siêu cường và sẽ là nước có mức sống cao nhất thế giới.

Họ cũng dự báo là sẽ không có một xu hướng tiêu cực nào trong sự phát triển của Liên Xô ít nhất là cho đến năm 2000.

Nhưng như đã biết, lịch sử đã rẽ sang một hướng hoàn toàn khác.

Sau hai thập kỷ (kể từ năm 1972), Liên Xô làm cả thế giới ngạc nhiên không phải vì có mức sống cao nhất, mà bằng một thảm họa hệ thống, mặc dù kinh nghiệm lịch sử cho thấy việc phát hiện những nguồn năng lượng mạnh đã thúc đấy sự đổi mới về chất của các nước công nghiệp phát triển.

Ví dụ, Anh đã có thể tiến hành một cuộc cách mạng công nghiệp là nhờ phát hiện và khai thác các mỏ than đá ở Yorshire và xứ Wale. Kinh tế Mỹ phát triển chóng mặt, mỗi người Mỹ một ô tô là dựa vào những thành tựu to lớn của nền công nghiệp dầu mỏ Mỹ trong hơn 30 năm đầu thế kỷ XX.

Cú hích mạnh để phát triển nước Pháp kiệt quệ sau Chiến tranh thế giới thứ hai chính là việc phát hiện các mỏ khí ngưng tụ ở Lakki. Và ngay tại Liên Xô, ai cũng hiểu rằng là “vàng đen” ở khu Ural – Povlzia đã giúp làm lành những vết thương khủng khiếp trong Chiến tranh vệ quốc như thế nào...

Cái gì đã xảy ra tại Liên Xô? Tại sao một quốc gia hàng năm khai thác lượng dầu nhiều hơn bất cứ một nước nào khác trên thế giới (20% sản lượng dầu thế giới ), lại đứng trên ngưỡng cửa của sự sụp đổ mang tính lịch sử?

Tại sao từ một loại “thuốc bổ”, dầu mỏ lại trở thành một thứ ma túy? Tại sao dầu mỏ lại không giúp Liên Xô tránh được những chấn động khủng khiếp? Và liệu dầu mỏ đã có thể làm được điều đó (giúp Liên Xô tồn tại) không?

Loi nguyen dau mo Lien Xo: Chet vi dola phuong Tay
Trên công trường lắp đường ống dẫn dầu . Ảnh : RIA Novosti

Khủng hoảng năng lượng năm 1973

Từ đầu những năm 70, Phương Tây đã bắt đầu nói đến khủng hoảng năng lượng. Trong bối cảnh nhu cầu sử dụng năng lượng ngày càng tăng, đôi khi đã xuất hiện những trục trặc liên quan đến việc tăng sản lượng cung cấp dầu. Cung không theo kịp cầu, và các nước xuất khẩu dầu lại “đổ thêm dầu vào lửa” khi liên kết lại với nhau, thành lập tổ chức OPEC năm 1960 và chơi con bài tăng giá dầu.

Năm 1967, các nước này lần đầu tiên sử dụng công cụ gây sức ép là cấm vận (dầu mỏ). Trong cuộc Chiến tranh sáu ngày A rập- Israel (năm 1967), A rập Saudi, Kuwait, Iraq, Lybia, Angeria đã cấm xuất khẩu dầu cho các nước thân thiện với Israel là Mỹ, Anh và áp dụng biện pháp cấm vận hạn chế đối với Tây Đức.

Tuy nhiên, các biện pháp cấm vận có lựa chọn (nhằm vào một số nước) đó không thể đem lại kết quả: lệnh cấm có thể dễ dàng bị vô hiệu hóa bằng cách nhập dầu qua một nước thứ ba.

Thứ Hai, 16/01/2017 13:57


Báo Đất Việt trên Facebook
.


Sự Kiện