1979-1988: Trung Quốc 10 năm nuôi dã tâm chiếm đảo Việt Nam

(Quan hệ quốc tế) - Sau cuộc chiến tranh xâm lược nước ta năm 1979, Bắc Kinh đã lộ rõ âm mưu chiếm đoạt trái phép các đảo của Việt Nam thuộc quần đảo Trường Sa.

Trung Quốc nuôi dã tâm xâm lược biển đảo của Việt Nam

Sau khi quân Trung Quốc thảm bại rút lui, nhà cầm quyền Bắc Kinh tuyên bố họ không tham vọng dù "chỉ một tấc đất lãnh thổ Việt Nam", nhưng trên thực tế, tiếng súng vẫn còn nổ trên biên giới phía Bắc hàng chục năm sau, quân xâm lược còn chiếm đóng rải rác tổng cộng khoảng 60 km2 lãnh thổ nước ta.

Các nhà quan sát nước ngoài ghi nhận, từ tháng 7/1980 đến tháng 8/1987, dọc tuyến biên giới Việt Nam-Trung Quốc đã xảy ra 6 cuộc xung đột vũ trang lớn vào các tháng 7/1980, tháng 5/1981, tháng 4/1983, tháng 6/1985, tháng 12/1986 và tháng 1/1987.

Tham vọng chiếm đoạt lãnh thổ của Việt Nam thể hiện rõ qua các cuộc đàm phán về biên giới trên bộ và biển giữa hai nước. Sau khi quân xâm lược rút quân, Việt Nam và Trung Quốc nối lại đàm phán về vấn đề biên giới. Cuộc đàm phán Việt - Trung lần ba diễn ra vào năm 1979 với hai vòng đàm phán.

Trong vòng đàm phán thứ nhất phía Việt Nam cho rằng, trước hết cần vãn hồi hòa bình, tạo không khí thuận lợi để giải quyết những vấn đề khác.

Đoàn Việt Nam đưa ra phương án ba điểm để giải quyết vấn đề biên giới là “chấm dứt chiến sự; phi quân sự hóa biên giới; khôi phục giao thông, vận tải bình thường trên cơ sở tôn trọng đường biên giới lịch sử mà các Hiệp định Trung-Pháp năm 1887 và 1895 đã thiết lập”.

Phía Trung Quốc từ chối những đề nghị của Việt Nam, đồng thời đưa ra đề nghị tám điểm hết sức phi lý của mình, bác bỏ việc phi quân sự hóa biên giới, đề nghị giải quyết các vấn đề lãnh thổ trên "cơ sở những Công ước Trung-Pháp", chứ không phải trên cơ sở đường ranh giới thực tế do các Hiệp định đó đưa lại.

1979-1988: Trung Quoc 10 nam nuoi da tam chiem dao Viet Nam

Lễ tưởng niệm những liệt sĩ đã hy sinh để bảo vệ chủ quyền của Tổ Quốc trên Biển Đông

Đặc biệt là Bắc Kinh đưa ra yêu sách đòi chúng ta phải thừa nhận chủ quyền phi pháp của nước này đối với các quần đảo Hoàng Sa (họ gọi là Tây Sa) và Trường Sa (Nam Sa).

Trong vòng 2 được tổ chức ở Bắc Kinh vào tháng 6/1979, Trung Quốc khăng khăng bảo lưu các luận điểm ngang ngược và vô căn cứ này, sau khi không đạt được các yêu sách chủ quyền phi pháp, họ đã bỏ hội nghị, mặc dù phía Việt Nam nhiều lần đề nghị nối lại các vòng đàm phán tiếp theo.

Việc Trung Quốc đặt điều kiện tiên quyết là Việt Nam phải từ bỏ đường lối độc lập, tự chủ của mình và từ bỏ chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì họ mới bắt đầu bàn bạc các vấn đề khác, đã bộc lộ rõ dã tâm xâm lược trên biển của nhà cầm quyền Bắc Kinh.

Song song với những luận điệu hết sức ngang ngược, chính quyền Bắc Kinh cũng chủ động tiến hành các hoạt động gây rối trên biển, đồng thời ráo riết thực hiện công tác chuẩn bị để sử dụng vũ lực chiếm đoạt quần đảo Trường Sa, nhằm thực hiện mưu đồ độc chiếm Biển Đông.

Trước tiên, cũng giống như những thủ đoạn hiện Trung Quốc vẫn đang thực hiện, nhà cầm quyền Bắc Kinh chủ trương đưa ra các hành động nhằm biến vùng biển “không tranh chấp thành vùng có tranh chấp”.

Ngày 23/7/1979, Tổng cục Hàng không dân dụng Trung Quốc công bố một thông cáo quy định “bốn vùng nguy hiểm” ở khu vực đảo Hải Nam trong đó có vùng trời của quần đảo Hoàng Sa và buộc máy bay dân dụng của các nước phải bay qua đây vào những giờ do nước này quy định.

1979-1988: Trung Quoc 10 nam nuoi da tam chiem dao Viet Nam

Quang cảnh trên một trong các đảo được bộ đội Việt Nam chốt giữ

Ngày 1 tháng 9 năm 1979, Bắc Kinh lại công bố bản quy định giành cho máy bay dân dụng nước ngoài, khi bay vào không phận của Trung Quốc, bao gồm cả không phận quần đảo Hoàng Sa.

Ngoài ra, Bắc Kinh còn tăng cường xây dựng trái phép các cảng, sân bay và các công trình phòng thủ ở quần đảo Hoàng Sa. Nhiều tàu ngư lôi và hàng trăm tầu cá Trung Quốc liên tục xâm phạm lãnh hải của Việt Nam trong vịnh Bắc Bộ (đỉnh điểm là năm 1981).

Mục đích của những hành động này của nhà cầm quyền Bắc Kinh là nhằm đánh lừa dư luận, khiến cộng đồng quốc tế lầm tưởng Trung Quốc có chủ quyền đối với vùng biển mà họ đã tuyên bố, che giấu sự yếu thế về các cứ liệu lịch sử và chứng cứ hiện thực về chủ quyền pháp lý.

Trung Quốc tiến hành các hành động chuẩn bị xâm lược Trường Sa

Về mặt quân sự, vào cuối năm 1979, Trung Quốc thành lập Binh chủng Hải quân đánh bộ (PLAMC), trực thuộc Quân chủng hải quân (PLAN), sau đó, thành lập lữ đoàn tác chiến đánh chiếm đảo và đổ bộ lên đất liền đầu tiên là Lữ 1 Hải quân đánh bộ vào tháng 5/1980.

Thứ Ba, 14/03/2017 09:41

Báo Đất Việt trên Facebook
.


Sự Kiện