Chuyên gia Nga nói về 'Cuộc chiến bảo vệ biên giới 2/1979'

(Quan hệ quốc tế) - Giờ này 40 năm trước đây, Cuộc chiến tranh XHCN thứ nhất bùng nổ.

Nhân kỷ niệm tròn 40 năm Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống quân bành trướng Trung Quốc xâm lược, xin được giới thiệu bài viết của nhà ngoại giao Liên Xô- Nga Anatoli Zaitsev (xin đừng nhầm với Thượng tướng Anatoli Zaitsev mà chúng tôi mới giới thiệu ở bài trước – “Kịch bản kinh hoàng dễ xảy ra nhất với Kurill") với tiêu đề và phụ đề trên đăng trên tuần báo “Người đưa tin công nghiệp quốc phòng” (Nga) và một số báo khác ngày 12/2/2019.

Các số liệu và nhận định là của “người ngoài cuộc”, chúng ta xem để tham khảo một cách nhìn. Ảnh trong bài, phần in nghiêng đậm để nhấn mạnh ý là của tác giả.

Mấy lời ngắn về Anatoli Safronovich Zaitsev:

Sinh năm 1939. Tốt nghiệp Viện ngôn ngữ phương Đông Đại học tổng hợp Lomonosov, nghiên cứu sinh Viện các dân tộc Châu Á Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô và Học viện ngoại giao Liên Xô. Phó tiến sỹ kinh tế. Nguyên cán bộ Đại sứ quán Liên Xô tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (trong các năm 1962-1964 và 1966-1969).

Nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Cộng Hòa Công gô và Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nga tại Cộng hòa Iceland. Nguyên Trưởng phòng Đông Nam Á Bộ Ngoại giao Liên Xô (1983-1987). Nói thành thạo tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt.

Chuyen gia Nga noi ve 'Cuoc chien bao ve bien gioi 2/1979'
Gìn giữ từng tấc đất của cha ông (Ảnh TTXVN)

“Xung đột đầu tiên lớn nhất trong lịch sử thế giới hiện đại giữa các quốc gia XHCN được ghi vào biên niên sử là cuộc chiến tranh Trung- Việt năm 1979 hay còn được gọi là Cuộc chiến tranh XHCN lần thứ nhất.

Trong các hoạt động quân sự trên bộ kéo dài một tháng (không quân và hải quân của các hai bên không được huy động), đối đầu với 250.000 quân của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (từ viết tắt tiếng Anh hay dùng- PLA) là các đơn vị Việt Nam với quân số chưa đến 100.000 người.

Sau hai tuần chiến sự ác liệt, 7 sư đoàn quân PLA xâm nhập được vào lãnh thổ Cộng hòa Xã hộị Chủ nghĩa Việt Nam do vấp phải sự kháng cự ngoan cường của lính các các đồn biên phòng, các phân đội bộ đội địa phương, dân quân Việt Nam ngay trên tuyến phòng thủ đầu tiên, chỉ tiến vào lãnh thổ Việt Nam ở các hướng chủ yếu ở chiều sâu đến 45-50km và chiếm được tỉnh lỵ Lào Cai và Cao Bằng.

Ngày 4/3/1979, sau 17 đợt tấn công với tổn thất rất lớn, quân PLA mới chiếm được thành phố (thị xã) có tầm quan trọng chiến lược Lạng Sơn, mở đường đến Hà Nội- từ thị xã Lạng Sơn đến Hà Nội chỉ còn 141km. Nhưng cuộc tấn công đến lúc này bắt đầu chững lại.

Ngày 5 tháng 3, Việt Nam công bố lệnh Tổng động viên và cấp tốc chuyển quân đoàn bộ binh từ Campuchia về nước để bảo vệ thủ đô Hà Nội và các mục tiêu chiến lược quan trọng khác.

Cùng ngày hôm đó, Bắc Kinh tuyên bố chấm dứt “chiến dịch quân sự hạn chế” và bắt đầu rút quân “có tổ chức và theo kế hoạch” (cuộc rút quân của Trung Quốc hoàn tất trước ngày 17/3, nhưng đến thời điểm đó các trận đánh vẫn diễn ra hết sức ác liệt cho đến phút chót) kèm theo một kết luận tóm tắt: “Việt Nam đã được dạy một bài học thích đáng”.

Các nhà sử học đều nhất trí cho rằng những các nguyên nhân chính buộc Trung Quốc phải quyết định rút quân là qua các hoạt động tác chiến, (1) (phía Trung Quốc) đã phát hiện những sai sót rất nghiêm trọng của (tướng lĩnh chỉ huy) PLA trong quá trình lập kế hoạch, chuẩn bị và tiến hành các chiến dịch tấn công (trên bộ) có sử dụng vũ khí hạng nặng,

(2) Trung Quốc không đánh giá hết năng lực tác chiến của các đơn vị biên phòng và dân quân Việt Nam- tức những lực lượng phải hứng chịu đòn tấn công chủ yếu đầu tiên của một lực lượng (Trung Quốc) có quân số vượt trội mình gấp nhiều lần, và (3) do (Trung Quốc) nhận thức được nguy cơ sẽ bị sa vào một cuộc chiến tranh kéo dài quy mô lớn với các đơn vị chính quy chủ yếu dày dạn kinh nghiệm trận mạc trong cuộc Chiến tranh Đông Dương của Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN- xin cũng được viết tắt theo tiếng Việt do thói quen).

“Bắc Kinh cho rằng quyết định của Hà Nội đưa “đội quân số lượng hạn chế” 120.000 người của mình vào Campuchia liên quan trực tiếp với việc ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Xô- Việt”.

Tuy nhiên, còn một nhân tố ảnh hưởng nữa cũng mang tính quyết định đến việc Bắc Kinh phải quyết định chấm dứt tấn công và rút quân, và cũng tác động đến toàn bộ tiến trình của những sự kiện diễn ra sau đó tại Đông Nam Á và Châu Á- Thái Bình Dương- đó là lập trường của hai siêu cường (Liên Xô, Mỹ) đúng vào thời kỳ mà hai bên đang hướng tới hòa hoãn, giải trừ quân bị và tích cực đối thoại để giải quyết những vấn đề chưa được giải quyết trong mối quan hệ song phương, cũng như trong một số vấn đề quan hệ quốc tế khác.

Một nhân tố có tính quyết định kiềm chế kẻ xâm lược (Trung Quốc), không còn nghi ngờ gì nữa, đó là “nhân tố Liên Xô”. Ngay sau khi Trung Quốc tấn công Việt Nam, Liên Xô ra tuyên bố kiên quyết ủng hộ nhân dân Việt Nam và sẵn sàng thực hiện các cam kết của mình.

Trong Hiệp ước về hữu nghị và hợp tác giữa Liên Xô và CHXHCN Việt Nam ký tại Matxcova năm 1978 có điều khoản quy định (cam kết) trong trường hợp một trong hai bên là đối tượng bị tấn công hoặc bị đe dọa tấn công, hai bên sẽ ngay lập tức tiến hành các cuộc tư vấn lẫn nhau nhằm loại trừ mối đe dọa đó và sẽ áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết để đảm bảo hòa bình và an ninh cho cả hai quốc gia.

Bắc Kinh đã gắn việc ký kết Hiệp ước Xô- Việt này với quyết định của lãnh đạo Hà Nội ngày 25/12/1978 đưa “đội quân hạn chế” 120.000 người của mình vào Campuchia đánh tan chế độ thân Bắc Kinh Pol Pot- Ieng Sary và thành lập Cộng hòa Nhân dân Campuchia vào tháng 1năm 1979.

Thứ Sáu, 15/02/2019 07:11

Sự Kiện