Tháng 2/1979: Bản hùng ca ‘Chiến đấu vì Độc lập-Tự do’

(Quan hệ quốc tế) - Ngày 17/02/1979, 60 vạn quân Trung Quốc tràn sang xâm lược Việt Nam, “tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới, gọi toàn dân ta vào cuộc chiến đấu mới”.

“Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới

Gọi toàn dân ta vào cuộc chiến đấu mới.

Quân xâm lược bành trướng dã man

Đã giày xéo mảnh đất tiền phương.

Lửa đã cháy và máu đã đổ, trên khắp dải biên cương.…”.

40 năm qua, những lời hát “Chiến đấu vì độc lập tự do” do nhạc sĩ Phạm Tuyên sáng tác vào đêm ngày 17 tháng 2 năm 1979, vẫn gây xúc động cho hàng triệu trái tim người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, là minh chứng hùng hồn nhất tố cáo tội ác xâm lược dã man của nhà cầm quyền Bắc Kinh.

>>Theo dõi chuyên đề 40 năm chiến tranh biên giới Việt - Trung: Sự thật lịch sử

Mỗi chiến sĩ Việt Nam đối đầu 10 quân xâm lược

Trong bài viết trước với tiêu đề: Tháng 1/1979: 600.000 quân xâm lược tập trung lên biên giới Trung-Việt”, chúng ta đã biết được việc Trung Quốc đã tập trung đến 620.000 quân và gần 1000 xe tăng-thiết giáp và hàng vạn khẩu pháo, pháo cối đến biên giới Trung-Việt, để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược nước ta.

Sau chuyến thăm Mỹ và một số quốc gia khác về, ngày 09/2/1979, ngày 11/02, Đặng Tiểu Bình đã triệu tập cuộc họp Quân ủy Trung ương mở rộng và ra quyết định ra mệnh lệnh phát động cuộc tấn công Việt Nam vào ngày 17/2/1979.

05h00 sáng ngày 17/2/1979, Trung Quốc chính thức phát động cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo trên toàn tuyến biên giới Việt Nam dài 1400 km, chạy từ điểm tây bắc là Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến điểm đông bắc ở Pò Hèn (Quảng Ninh).

Hơn 60 vạn quân xâm lược được sự yểm trợ của gần 800 xe tăng, xe bọc thép, trọng pháo, đã đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam (từ tây sang đông theo tuyến biên giới là Lai Châu, Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh).

Đối đầu với hơn 600.000 quân xâm lược tàn bạo, lực lượng quân sự Việt Nam lúc đó rất mỏng, với tương quan chênh lệch quân số gần 9 lần.

Thang 2/1979: Ban hung ca ‘Chien dau vi Doc lap-Tu do’

Cán cân lực lượng trên biên giới nghiêng hẳn về phía Trung Quốc

Vào thời điểm đó, 3 trong số 4 Quân đoàn chính quy của Quân đội Nhân dân Việt Nam đang tập trung ở khu vực phía Nam. Quân đoàn chủ lực duy nhất ở ngoài bắc là Quân đoàn 1 triển khai lực lượng xây dựng một phòng tuyến bảo vệ thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng, chuẩn bị cho tình huống xấu nhất là Trung Quốc đột phá qua tuyến phòng thủ biên giới, tiến sâu xuống vùng châu thổ sông Hồng hoặc đổ bộ quân dù xuống phía sau phòng tuyến, cắt đứt hậu phương với tiền tuyến.

Do đó, đảm nhận nhiệm vụ phòng thủ ở biên giới với Trung Quốc lúc đó chỉ có một số sư đoàn chủ lực quân khu (phần lớn là tân binh) của Quân khu I và II, cùng các đơn vị bộ đội biên phòng, bộ đội địa phương tỉnh, huyện; công an vũ trang (biên phòng), du kích xã và dân quân - tự vệ của các nhà máy, nông trường, các nhóm cựu chiến binh…

Lực lượng tinh nhuệ nhất của phía Việt Nam đứng chân trên khu vực biên giới Việt-Trung là Sư đoàn 3 (đóng ở Lạng Sơn) và sư đoàn 316A (đóng tại Sa Pa). Ngoài ra, còn có các sư đoàn 346 ở Cao Bằng, 325B ở Quảng Ninh, 345 ở Lào Cai, 326 ở Phong Thổ, Lai Châu.

Lực lượng độc lập của ta gồm các trung đoàn 141, 147, 148, 197, trung đoàn pháo binh 68, các trung đoàn quân địa phương 95, 121, 192, 254 và 741.

Sau khi Trung Quốc nổ súng tiến công, đến ngày 18 và 19-2, chúng ta lần lượt bổ sung hai sư đoàn 327 của Quân khu III (gồm Trung đoàn bộ binh 42, 75, 540 và Trung đoàn pháo binh 120) từ Quảng Ninh lên tiếp viện Quân khu I và sư đoàn 337 của Quân khu IV, (gồm Trung đoàn bộ binh 4, 52, 92 và Trung đoàn pháo binh 108) hành quân bằng cả tàu hỏa và xe vận tải từ Nghệ An ra bắc, lên tiếp viện thẳng cho mặt trận chính ở Lạng Sơn.

Để đối phó với lực lượng tấn công tới 60 vạn quân của Trung Quốc, lúc đó lực lượng phòng thủ biên giới của chúng ta chỉ có tổng cộng khoảng 7 vạn quân, còn về tương quan vũ khí-trang bị thì chúng ta kém xa quân xâm lược.

Chỉ đến giai đoạn 2 của cuộc chiến (theo thời gian trong tuyên bố của Trung Quốc), Việt Nam mới quyết định tung lực lượng chủ lực tham chiến.

Ngày 27/2, Quân đoàn 2 chủ lực của Bộ quốc phòng được lệnh cơ động lên mặt trận tăng viện. Các trung đoàn máy bay vận tải, trực thăng vận tải Việt Nam và Liên Xô đã dùng máy bay vận tải bốc bộ binh và vũ khí, trang bị của Quân đoàn từ chiến trường biên giới Tây Nam về miền bắc.

Tuy nhiên, việc bốc một số lượng lớn bộ binh và vũ khí trang bị với khoảng cách xa như thế là điều không hề đơn giản, nên mãi đến cuối cuộc chiến lực lượng chủ lực của quân đoàn này mới kịp triển khai lên biên giới nhưng không kịp tham chiến.

Thứ Tư, 13/02/2019 09:32

Sự Kiện