Sự thật 'đau lòng' về 'Đô thành Sài Gòn' xưa (kỳ 2)

(Người Việt) - >> Sự thật 'đau lòng' về 'Đô thành Sài Gòn' xưa (kỳ 1)Tài liệu mật Lầu Năm Góc ghi: "Không có sự giúp đỡ của Mỹ, gần như chắc chắn là Diệm không thể củng cố được chỗ đứng của mình ở miền Nam trong thời gian 1955 và 1956 (...) Không có viện trợ của Mỹ trong những năm sau đó, chắc chắn là chế độ Diệm (...) không thể sống sót được". Trên thực tế, khi Mỹ “quay lưng”, ngụy quyền đã sụp đổ.

700 tỉ USD mong thu phục miền Nam Việt Nam

Theo số liệu do Mỹ công bố, chi phí trực tiếp mà Washington đổ vào toàn bộ cuộc chiến tranh Việt Nam từ 1960 đến 1973 là 141 tỉ USD, nếu tính cả những chi phí gián tiếp là 700 tỉ USD. So với chiến tranh thế giới lần thứ hai, chi phí trực tiếp của Mỹ là 341 tỉ USD và vừa trực tiếp vừa gián tiếp là 900 tỉ USD, thì con số dốc cho Việt Nam thật “khủng”.

Với số tiền đó, Mỹ đã dùng trang bị và củng cố ngụy quân, ngụy quyền; đồng thời tiến hành các chương trình bình định nông thôn. Trong năm 1966, những hàng hóa viện trợ trị giá 445 triệu USD đã được chở tới Việt Nam thuộc chương trình nhập cảng thương mại của cơ quan USAID, chương trình chống phiên cộng, viện trợ phát triển và chương trình thực phẩm phụng sự hòa bình. Con số này gấp đôi số viện trợ trong năm 1965".

Dinh Độc lập năm xưa. Ảnh tư liệu
Tuy nhiên, tính toán cho thấy, có khoảng 5- 6% đã thất thoát, rơi vào túi riêng của bọn tay sai hoặc chạy ra thị trường để tạo nên khu vực dịch vụ to lớn, mà mục đích cuối cùng vẫn là quay trở về phục vụ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ.

Leo thang chiến tranh khiến lạm phát phi mã

Chiến tranh càng leo thang, nạn lạm phát càng nghiêm trọng, cụ thể: năm 1969 là 140 tỷ, năm 1970 là 162 tỷ, năm 1971 là 187,4 tỷ. Tỷ lệ gia tăng bình quân hằng năm là 15%.

Để đối phó, Thiệu - Kỳ không còn biện pháp nào khác hơn là phá giá đồng bạc và tăng thuế. Ngày 17/6/1966, với tư cách là Chủ tịch Ủy ban hành pháp trung ương, Nguyễn Cao Kỳ ký hai sắc lệnh 001/66 và 002/66 quy định 1 USD ăn 118 đồng (trước đó 1 USD tương đương 60 đồng). Trên chợ đen, giá 1 USD lên tới 270 đồng và không ngừng tăng đến 360 đồng (1969), 414 đồng (1971), 640 đồng (1974), 700 đồng (1975). Hậu quả tức thời của biện pháp phá giá đồng bạc là cả mọi hàng hóa đều tăng vọt. Theo thống kê của Ngân hàng quốc gia ngụy, giá một số thực phẩm vào cuối năm 1965 và cuối năm 1967 như sau: 1 kg thịt gà tăng từ 96 đồng lên 309 đồng (gấp 3,2 lần); 1 kg thịt vịt tăng từ 63 đồng lên 203 đồng (gấp 3,2 lần); 1 kg tôm tươi tăng từ 62 đồng lên 216 đồng (gần 3,5 lần). Người dân lao động Sài Gòn không dám động đến các món hàng "cao cấp" nói trên, nhưng họ không thể không ăn cơm với rau trong bữa ăn hàng ngày. Thế nhưng, giá cả các mặt hàng thực phẩm thiết yếu đã tăng không dưới 3 lần, cụ thể: 1 kg gạo sóc nâu từ 9,03 đồng lên 27,83 đồng (hơn 3 lần); 1 kg rau muống từ 7 đồng đến 21 đồng (gấp 3 lần). Ngoài ra, do nhu cầu ngân sách gồm những chi phí cực nặng trên lĩnh vực quốc phòng..., người dân đã phải hứng chịu gánh nặng thuê khóa bằng tất cả mọi tàn lực. Chính quyền Thiệu không ngừng tăng thuế cũ và đặt thêm thuế mới: thuế nhà hàng (31/3/1966), thuế lương bổng (3/9/1966), thuế lợi tức (3/9/1966)... để ngày càng vơ vét tài lực của dân: từ 77 tỷ (1969), 97 tỷ (1970) lên 126 tỷ (1973), 240 tỷ (1974).

Người dân chịu đựng tính dâm dật, tàn bạo của lính Mỹ

Lính Mỹ có mặt ở khắp nơi, không phải chỉ ở mặt biển, ở nông thôn, rừng núi để giết hại tàn phá, mà còn tràn ngập các đường phố, len lỏi cả vào những xóm lao động chen chúc nữa. Ở đâu chúng cũng có những hành vi thô bạo, kỳ quái. Ở các căn cứ quân sự của chúng, chúng hay giở trò sàm sỡ với những phụ nữ đi làm thuê và khi không được thỏa mãn, chúng đã sẵn sàng đuổi họ để trả thù. Ở những xóm lao động, nơi chúng thuê nhà ở, để ngỏ “cửa tồng ngồng”, mặc quần lót đú đởn với các "me Mỹ". Chúng nham nhở bất cứ lúc nào có thể nham nhở, ban ngày, ban đêm, trong giờ làm việc, ngoài giờ làm việc, trong sở làm, ngoài phố, bất cứ với hạng người nào, dù xấu hay đẹp, dù với những đứa con gái đáng tuổi con chúng hay với những người đáng tuổi chị, tuổi mẹ chúng.Trên các đường phố, từng đoàn xe cam nhông của chúng phóng như gió, chèn các xe nhỏ vào lề, xuống ruộng; nếu cán phải người, chúng bỏ chạy. Ngồi trên xe thì chúng với tay giật nón, nắn bóp vào da thịt những phụ nữ đi xe đạp, đi xe gắn máy hoặc ném rác, ném lon bia vào đầu và cổ của những người đi đường, rồi hí hố cười trơ trẽn. Ngay trên đường phố Sài Gòn, chúng say rượu ngả nghiêng, gặp bất cứ phụ nữ nào cũng đưa tay trả giá, hoặc giở những trò tồi tệ khác: năm 1966, một phụ nữ ở Khánh Hội đã bị binh lính Mỹ bắt cóc giữa ban ngày bằng xe Jeep. Còn khi đi hành quân lục soát, chúng cũng không quên những trò khả ố với phụ nữ: xét các ghe máy từ Cam Ranh sang Ba Ngòi, chúng đã "công khai rờ rẫm những nữ hành khách" cởi áo lót các thiếu nữ trẻ tuổi rồi "vừa hò hét vừa cười với nhau hô hố". Chúng cũng đột nhập chùa chiền, xông vào nhà dân chúng, như trường hợp cuộc càn bố của lính Mỹ ở Cam Ranh năm 1968.Không một hành vi tàn bạo, man rợ nào mà quân viễn chinh Mỹ không làm, từ việc bắn giết, đốt phá, cướp bóc đến xẻo tai người để đếm xác, hãm hiếp tập thể, đặt chất nổ vào âm hộ đàn bà rồi cho nổ banh xác. Chúng giết người lúc đầu là một bài học, nhưng dần dần là một nhu cầu sinh lý. Trong sự kiện Calley ở Sơn Mỹ (Quảng Ngãi) ngày 16/3/1968, một đại đội lính Mỹ thuộc Sư đoàn Bộ binh 20, đã chia thành ba nhóm, mở màn một cuộc giết người cực kỳ tàn nhẫn. Chúng đâm người bằng lưỡi lê, ném xuống giếng, tập hợp những đám đông rồi bắn súng máy, ném lựu đạn cho đến khi thấy không còn một ai sống sót nữa mới thôi (những người còn sống là những người may mắn bị các thây ma vùi lấp). Kết cuộc sau ba giờ tàn sát, đại đội này đã giết chết 567 người Việt Nam: tất cả đều là những người không vũ trang, là những người đàn bà những trẻ con, những ông già trong đó có cả nhà sư nữa.

Trước tình cảnh bị đàn áp nghiêm trọng, công nhân và nhân dân lao động thành phố lập các tổ chức như Ủy ban bảo vệ quyền lợi lao động, Ủy ban đấu tranh chống sa thải công nhân, Ủy ban cải thiện đời sống công nhân, v.v... để đòi chính quyền Thiệu và giới chủ phải tăng lương, hạ giá sinh hoạt, chống đuổi thợ dưới bất kỳ hình thức nào và nhất là đòi Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút quân về nước vì đó là những nguyên nhân của mọi khổ đau về vật chất và tinh thần của người dân.

Dòng tin bài khác:
>> Ớn lạnh vì 'tiếng rên' ở cà phê 'nude 100%'
>> 'Nhân chứng' nói về ngày lịch sử 'đưa rùa hồ Gươm vào viện'
>> 'Ám khí' và 'mật mã' về kho vàng 3 tạ là đồn đại
>> Vua Bảo Đại bị thách cưới 'khủng'
>> Số phận 'buồn' của hai bé gái Nga hát 'Vọng Cổ Việt'
>> Đắng lòng' nghe 'phận bạc' của nữ tiếp viên cafe bikini Việt ở Mỹ

Thứ Hai, 04/04/2011 22:14

Sự Kiện