Liệu Đồng bằng sông Cửu Long có thể ngọt lại?

(Bình luận) - Cách nay chừng 10 năm, nếu ai nói chuyện ĐBSCL oằn mình trong cơn hạn nặng, đối với nhiều người, không khác gì chuyện viễn tưởng.

Sự đỏng đảnh của thời tiết, sự khó lường của khí hậu và những cơn tai biến bất ngờ xuất hiện ngày càng nhiều, cứ như thể thiên nhiên đang đưa ra lời cảnh báo không thể hoài nghi. Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam chỉ là một trong những nạn nhân trong hiện tượng biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan này, dẫu vậy, gần 100 triệu người dân Việt không thể khoanh tay đứng nhìn.

Vựa lúa của cả nước đã phải trải qua những ngày tháng 2, tháng 3 khát nước. Không chỉ người dân vùng ĐBSCL, chính những khán giả, độc giả ở khắp mọi miền cả nước cũng không còn lạ lẫm gì với những cánh đồng nứt nẻ, khô trắng. Đành rằng, vùng đất này đã lường trước khó khăn, những kịch bản đối phó với hạn mặn đã được triển khai hiệu quả, giảm thiểu tới mức thấp nhất hệ lụy của thiên tai nhưng vùng ‘nước nổi’ lại thiếu nước vẫn là điều khiến không ít người cảm thấy xót xa.

Lieu Dong bang song Cuu Long co the ngot lai?
Nông dân ĐBSCL vật lộn với hạn mặn. Ảnh minh họa 

Đối với người dân vùng ĐBSCL, đó là nỗi đau gắn với ‘miếng cơm, manh áo’. Dù cơn hạn kỷ lục đã đi qua, vẫn có những vườn hoa quả như sầu riêng, chôm chôm, xoài… đang khô héo vì đất đã bị nhiễm mặn. Sẽ cần rất nhiều nước để đất đồng bằng ngọt lại, vậy nhưng bao giờ trở lại ngày xưa?

Quả thật, đó là một nghịch lý. Theo một vị chuyên gia nhiều năm nghiên cứu về ĐBSCL, mỗi năm ĐBSCL chỉ tiêu thụ tối đa khoảng 60 tỷ m3 nước và dẫu 10 năm nữa, lượng tiêu thụ cũng chỉ dừng lại ở con số đó. Thế nhưng, vào mùa mưa, khu vực này nhận được chừng 200-300 tỷ m3 nước, từ nước mưa và nước trên thượng nguồn Mekong đổ về. Lại nữa, khi nền khoa học công nghệ thế giới phát triển vượt bậc, những vùng đất sa mạc ở Trung Đông có thể biến thành những vườn rau mà vùng đất hai mặt giáp biển của Việt Nam lại cam tâm chịu khát là một chuyện khó tin nhưng… có thật.

Việc nhận diện và tìm giải pháp cho vấn đề nêu trên đã được đặt ra và lại đang được bàn thảo sôi nổi trong những ngày gần đây. Bắt đầu từ Hội nghị giải trình về An ninh nguồn nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt và quản lý an toàn hồ đập do Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội chủ trì. Tại đây, những quan chức lãnh đạo các Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tài nguyên và Môi trường đều thống nhất, an ninh nguồn nước là vấn đề quan trọng và cấp bách. Sự chủ động về nguồn nước là điều rất cần thiết, đặc biệt khi nguồn nước của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào lưu vực, các con sông bắt nguồn từ nước ngoài.

Tiếp sau đó, nhiều tiếng nói từ các nhà khoa học đã vang lên. Mong muốn giới khoa học và các nhà quản lý điều hành ngồi lại với nhau, tìm ra một giải pháp giải khát cho vùng đồng bằng, dù chưa trở thành những lời kêu gọi mạnh mẽ thì cũng đã nung nấu trong tâm trí những người có nhiều tâm huyết với ĐBSCL. Có nhiều lý do để hy vọng, nguyện vọng này sẽ sớm thành hiện thực.

Giải pháp đầu tiên được đề cập là khả năng trữ nước, chuyển nước ở vùng ĐBSCL. Lựa chọn cải tạo, mở rộng, xây mới một trục dẫn nước chính cho toàn vùng ĐBSCL có thể nên được cân nhắc. Cùng với đường trục đó, khôi phục hiện trạng những vùng chứa nước sẵn có ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, xây thêm những hồ thủy lợi chứa nước mới, tạo thành những “má khỉ” trữ nước và điều tiết nước với trục dẫn nước chính.

Tính toán nêu trên không thể là viển vông bởi nhiều lẽ. Thứ nhất, những vùng trũng chứa nước tự nhiên mà người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long gọi thân thuộc là “láng lung”, từ xưa tới nay đã góp phần trữ nước và điều tiết nước rất tốt cho vùng đồng bằng sông Cửu Long, và hiện giờ, chỉ cần phát huy hơn nữa vai trò của chúng. Một trục chính dẫn nước đồng thời sẽ giúp xử lý vấn nạn xâm nhập mặn, khi việc ngăn mặn, đẩy mặn có thể chỉ cần tập trung ở đường trục này.

Thứ hai, về vấn đề kinh phí, chắc chắn đây sẽ là một đại dự án, công trình trọng điểm quốc gia. Tuy nhiên, ưu tiên cho ĐBSCL không chỉ mang tính chất an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, mà còn phải là một lựa chọn tất dĩ ngẫu. ĐBSCL vốn đã chịu thiệt thòi nhiều trong phân bổ đầu tư. Thay vì lập lại thế cân bằng bởi những đại dự án hạ tầng chưa thật sự cần thiết, đầu tư vào đường dẫn nước chính và hệ thống má khỉ, trữ nước, điều hòa lượng nước và cung cấp nước cho toàn vùng ĐBSCL vào mùa khô là lựa chọn không cần phải hồ nghi.

Thứ ba là vấn đề thực thi. Không ít dự án ngăn mặn, chống hạn… đã được triển khai ở ĐBSCL với số vốn tổng cộng có lẽ đã lên tới hàng chục ngàn tỷ đồng. Không cần viện dẫn tới đợt hạn mặn kỷ lục vừa qua, nếu xét về toàn cục, hiệu quả của các dự án này vẫn là một dấu hỏi lớn.

Từ đây, có thể thấy, thay vì đầu tư vào những dự án nhỏ, có tính chất cục bộ, cô lập, không thể chống nổi diễn biến quá khắc nghiệt của thời tiết và khí hậu, lựa chọn đầu tư tổng thể nên được xem là giải pháp căn cơ, thậm chí tiết kiệm hơn. Chiến lược đúng, lựa chọn đúng nhân sự, xây dựng phương án đúng và giám sát cẩn trọng, tin rằng chúng ta sẽ nhận được những kết quả khả quan.

Nghĩ về ĐBSCL, theo nhiều quan điểm, không nên dừng lại ở việc hóa giải những cơn hạn mặn. Đó còn là vấn đề cân nhắc về cơ cấu cây trồng, cả về số lượng, chủng loại lẫn sản lượng. Nước là tài nguyên, đất đai cũng là một dạng tài nguyên, mà nếu lạm dụng, việc phục hồi lại độ màu cho đất sẽ rất lâu dài và khó khăn. Đã đến lúc chúng ta nên nhìn lại, hiệu quả sử dụng nguồn nước và nguồn đất đai tại khu vực này, không thể vắt kiệt chất màu trong đất để những trái dưa hấu, sầu riêng, măng cụt… phải chịu cảnh chất đống ở cửa khẩu, hoặc chịu cảnh bán rẻ như cho.

Về phía người nông dân, họ chỉ biết vắt sức, đổ mồ hôi, chấp nhận cảnh được mùa mất giá như một lẽ dĩ nhiên và khắc phục bằng cách cố tăng diện tích và sản lượng cây trồng, sử dụng có khi đến lạm dụng phân bón, hóa chất, thuốc trừ sâu. Cái vòng luẩn quẩn ấy nếu không được tháo gỡ, vừa bất công cho những người bỏ công bỏ của đầu tư những vườn cây ăn trái, vừa ăn lạm vào phần của tương lai, khi đất đã mỏi, còn nước thì đã cạn.

Thời gian qua, rất nhiều lần, tư tưởng thuận thiên trong phát triển vùng ĐBSCL đã được đưa ra, như một giải pháp cốt lõi để hóa giải những tồn tại hiện hữu. Nhưng khi thiên nhiên ngày càng khó lường, khi sức ép từ sự sinh tồn của con người lên thiên nhiên ngày càng lớn, “thuận thiên” cũng cần phải được hiểu theo một cách khoa học.

Khánh Nguyên

Thứ Bảy, 29/08/2020 07:55

Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện