Đầu tư công 3 dự án cao tốc Bắc-Nam: Tránh lạm dụng

(Tin tức thời sự) - Chuyển 3 dự án thuộc cao tốc Bắc - Nam sang đầu tư công là “bất khả kháng”. Không coi là giải pháp để tháo gỡ khó khăn cho các trường hợp khác.

Thông tin về dự định trình cấp có thẩm quyền quyết định đưa vào danh mục đầu tư công 3 dự án thành phần thuộc cao tốc Bắc – Nam đang nhận được sự quan tâm lớn của dư luận. Ông Lê Việt Trường, nguyên ĐBHQ Khóa XIII, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội đã có những trao đổi thẳng thắn với báo Đất Việt về vấn đề này.

Dau tu cong 3 du an cao toc Bac-Nam: Tranh lam dung
Chuyển 3 dự án thuộc cao tốc Bắc - Nam sang đầu tư công là “bất khả kháng”. Ảnh minh họa: PLO

Giải pháp phù hợp

PV: Các dự án được đề xuất chuyển đổi hình thức đầu tư ngay trong quý II/2020 là dự án Phan Thiết- Dầu Giây dài 99km, tổng mức đầu tư 14.359,7 tỷ đồng; dự án Mai Sơn- Quốc lộ 45 dài 63,4km, tổng mức đầu tư 12.918 tỷ đồng; dự án đoạn Quốc lộ 45 - Nghi Sơn dài 43,2km, tổng mức đầu tư 6.333 tỷ đồng. Thưa ông, liệu đây có phải là một việc chẳng đặng đừng khi mà đã có 3 dự án thành phần trong đại dự án cao tốc Bắc – Nam đã được triển khai? Trong trường hợp này, dấu hỏi về phương án cho các dự án thành phần còn lại cũng được đặt ra. Liệu điều này có tạo nên một tiền lệ xấu?

Ông Lê Việt Trường: Với tôi, chuyển đổi hình thức đầu tư với một số dự án thành phần của dự án cao tốc Bắc – Nam là thông tin khá bất ngờ.

Thứ nhất, đây là dự án có tầm chiến lược quan trọng quốc gia, lại có tổng nguồn vốn rất lớn và đã được Quốc hội thông qua Nghị quyết về chủ trương đầu tư xây dựng giai đoạn 2017 – 2020. Về nguyên tắc, một dự án như vậy muốn thay đổi hình thức đầu tư phải được cân nhắc mọi bề, sau đó mới trình lên Quốc hội xem xét.

Thứ hai, dự án đã phát hành hồ sơ mời thầu sơ tuyển nhưng phải thay đổi hình thức đầu tư.

Tuy nhiên, khi xâu chuỗi toàn bộ diễn biến của nền kinh tế, xã hội cũng như đặt trong bối cảnh phát triển chung của thế giới, chúng ta có thể hiểu được quyết định trên là phù hợp.

Dự án ban đầu được trình ra Quốc hội với những thuyết trình khá khả thi. Theo đó, dự án được chia nhỏ thành 11 dự án thành phần, trong đó có 3 dự án được quyết định đầu tư theo nguồn vốn ngân sách, 8 dự án còn lại được kêu gọi đầu tư theo hình thức PPP. 

Bước sang năm 2020, 3/8 dự án đầu tư theo hình thức PPP đã hoàn thành đánh giá hồ sơ và trình kết quả sơ tuyển, dự án liên tục được thúc tiến độ triển khai. Tuy nhiên dịch bệnh viêm phổi do virus corona chủng mới (Covid-19) gây ra đã tác động tiêu cực tới sự phát triển chung của nền kinh tế trong nước cũng như toàn cầu. Hệ thống kinh tế gần như đứng lại, các doanh nghiệp chật vật xoay trở để tồn tại. Tình hình trên khiến việc huy động vốn ngoài ngân sách cho các dự án PPP nói chung và 3 ba dự án nói trên gặp rất nhiều khó khăn, khó bảo đảm được tiến độ triển khai.

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đang triển khai nhiều dự án, nhiều chương trình, mục tiêu lớn nhỏ khác nhau. Nguồn lực xã hội từ các doanh nghiệp cũng vì thế bị phân tách, chảy vào các lĩnh vực khác khiến việc kêu gọi vốn ngoài ngân sách càng khó khăn hơn.

Trong khi đó, đầu tư công lại đang tồn tại một nghịch lý. Một mặt, “ngân sách có tiền không tiêu được”, “có tiền không thể giải ngân”. Mặt khác, hàng năm Chính phủ vẫn phải đi vay từ nước ngoài cho đầu tư hạ tầng, chi tiêu thường xuyên. Việc này khiến chúng ta chịu thiệt đơn, thiệt kép, không những gây ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất, việc làm, thu nhập của người lao động mà còn gây lãng phí rất lớn.

Đứng trước thực tế và lường trước những nguy cơ bị giảm phát, tôi không cho rằng, việc chuyển đổi hình thức đầu tư với 3 dự án trên là một việc chẳng đặng đừng. Đây nên được xem là giải pháp nhằm kích cầu khi nền kinh tế trong nước có dấu hiệu bị suy giảm.

Để chống lại các biểu hiện suy thoái, đầu tư công là một giải pháp tích cực có thể đưa một quốc gia thoát khỏi tình trạng giảm phát nghiêm trọng. Khi có đầu tư công, có dự án sẽ có chi tiêu ngân sách, dòng vốn được lưu thông sẽ tạo ra việc làm, xã hội có thu nhập, giúp giải quyết những khó khăn trước mắt. 

Tất nhiên, khi thay đổi phương án đầu tư với 3 dự án thành phần nói trên, dấu hỏi về phương án cho các dự án thành phần còn lại cũng sẽ được đặt ra. Và những lo ngại về một tiền lệ xấu hay có tình trạng lợi dụng dịch bệnh để luồn lách, xin – cho, gây hệ quả xấu là hoàn toàn dễ hiểu.

Nhưng chúng ta đã có cả một hệ thống pháp luật. Mọi điều chỉnh phải nằm trong phạm vi pháp luật cho phép. Các dự án đã được Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư, nếu muốn thay đổi phải được báo cáo, trình Quốc hội xem xét quyết định dựa trên các kết luận thanh tra, kiểm soát của nhà nước. Các dự án thành phần thuộc dự án cao tốc Bắc – Nam cũng không ngoại lệ. Chúng cũng cần phải tuân thủ các nguyên tắc này. 

Mặc dù vậy tôi cũng thống nhất với quan điểm, chuyển đổi hình thức đầu tư với 3 dự án trên chỉ là biện pháp tình thế, không nên được xem là giải pháp toàn cục để áp dụng với tất cả các dự án thành phần khác. Khi mọi hoạt động kinh tế, xã hội trở lại quỹ đạo bình thường, nền kinh tế trong nước đã ổn định, dự án cần được triển khai theo đúng tinh thần Quốc hội đã thông qua.

PV: Liên quan tới 8 dự án thành phần thực hiện theo hình thức đầu tư PPP, mối quan ngại lớn nhất từ trước tới nay là khả năng tiếp cận 63.716 tỷ đồng vốn tín dụng của các nhà đầu tư trong nước. Ở thời điểm đó, Bộ GTVT cho biết đã có phương án dự liệu trong trường hợp dự án không có nhà đầu tư vượt qua vòng sơ tuyển. Theo đó, Bộ đưa ra ba phương án: Một, tiếp tục đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư theo hình thức PPP, nhưng sẽ dẫn tới chậm tiến độ; Hai, kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho phép sử dụng vốn ngân sách để đầu tư, sau đó bán quyền thu phí cho các doanh nghiệp, lấy tiền để đầu tư tiếp; Ba, phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu công.

Vậy trong trường hợp quyết định chuyển đổi 3 dự án trên sang đầu tư công, ông dự đoán, phương án thu xếp vốn nào có thể và nên lựa chọn? Có vẻ như, ngay từ đầu, Bộ GTVT đã mở hé một cánh cửa đầu tư công, điều này phải được hiểu như thế nào?

Ông Lê Việt Trường: Tôi cho rằng, phương án thu xếp vốn cho 3 dự án trên theo cách nào cũng phải bảo đảm được mục tiêu trước mắt và tính ổn định về lâu dài. Vì thế, không nên hiểu nhầm Bộ GTVT đã mở hé một cánh cửa đầu tư công là có toan tính hay ý đồ gì khác.

Trách nhiệm của Bộ GTVT, Bộ Kế hoạch đầu tư (Bộ KH-ĐT) và Bộ Tài chính là phải tham mưu, xây dựng mọi phương án huy động vốn cho các dự án này, trong đó có cả phương án đầu tư công. Lựa chọn phương án nào cũng phải bảo đảm tính tối ưu nhất, hiệu quả nhất, do đó không ngạc nhiên khi có nhiều phương án triển khai cho một dự án lớn.

Về bản chất dự án đầu tư theo hình thức PPP, nguồn vốn nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng. Sự tham gia của nhà nước ngoài mục đích bảo đảm dòng tiền đối ứng còn giúp củng cố niềm tin cho các nhà đầu tư tư nhân.

Tuy nhiên, trong bối cảnh huy động nguồn lực từ xã hội khó khăn như hiện nay, yêu cầu chuyển đổi hình thức đầu tư là cần thiết thì việc phát hành trái phiếu chính phủ để huy động vốn có lẽ là giải pháp sẽ được tính tới đầu tiên cho 3 dự án này.
 
Tôi chỉ lưu ý, giải pháp huy động vốn nào cũng đều có thuận lợi và rủi ro. Phát hành trái phiếu là giải pháp kinh tế được nhiều nước thực hiện nhằm huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân để phục vụ cho phát triển kinh tế. Thế nhưng vay của dân thì cũng sẽ phải trả. Nếu lạm dụng việc phát hành trái phiếu để huy động vốn, đến giai đoạn phải đáo hạn trái phiếu, áp lực trả nợ là rất lớn. Việc này nếu không được kiểm soát chặt chẽ, đặc biệt nếu chi tiêu không hiệu quả, rất có thể chúng ta sẽ phải đối diện với nguy cơ tiền mất mà nợ phải mang.

Trong bối cảnh bội chi cao, nợ công đã chạm trần Quốc hội cho phép, Chính phủ càng phải thận trọng khi quyết định phát hành trái phiếu. Phương án phát hành trái phiếu chỉ thực hiện khi được tính toán bảo đảm được đủ 3 yếu tố: Trần nợ công có cho phép không? Phát sinh lạm phát thế nào và mức phát sinh có gây ảnh hưởng tới phát triển của kinh tế, xã hội không? Tính hiệu quả của dự án ra sao? Không thể để xảy ra tình trạng lãng phí, tham nhũng, tiêu cực khi đầu tư công.

Lâu nay, vấn đề hiệu quả trong đầu tư công của Việt Nam được đánh giá rất thấp. Nhìn chung toàn nền kinh tế, hệ số sử dụng vốn đầu tư, thể hiện để tăng một đồng GDP cần đầu tư bao nhiêu đồng (ICOR) cao gấp đôi các nước trong khu vực, nghĩa là hiệu suất đầu tư của chúng ta chỉ bằng một nửa.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chỉ số ICOR của Việt Nam tăng mạnh giai đoạn 1991-1995 là 3,5 thì đến 2007-2008 là 6,15, đến 2009 vọt lên 8 và năm 2018 giảm xuống còn 6,21 nhưng vẫn còn cao hơn nhiều so với khuyến cáo của Ngân hàng Thế giới.

Nếu một dự án tiêu tiền rất lớn như dự án cao tốc Bắc – Nam được đầu tư bằng hình thức trái phiếu mà lại không tính toán kỹ lưỡng hiệu quả của dự án hay không quản lý chặt chẽ khiến dự án vừa khai thác đã hỏng như cao tốc Quảng Nam – Đà Nẵng thì vô cùng nguy hiểm. Gánh nặng trả nợ sẽ tiếp tục đè nặng nên vai người dân và nền kinh tế.

Phải hết sức cẩn trọng

PV: Trong trường hợp xin chuyển đổi hình thức đầu tư như trên thì quy trình thực hiện thế nào, thưa ông? Cái được và cái mất nếu đồng ý với đề xuất trên ở đây là gì, trong đó có nên tính tới cả đóng góp vào tăng trưởng GDP? Có ý kiến nghi ngại, cứ theo cách này, dự án sẽ được đầu tư công, không đúng với thuyết trình đã được trình Quốc hội và được Quốc hội chấp thuận chủ trương. Nếu xảy ra tình huống này, có điều gì cần phải xem lại hay không? 

Ông Lê Việt Trường: Như nói ở trên, dự án đã được Quốc hội ra nghị quyết thống nhất thông qua chủ trương đầu tư, nên về nguyên tắc, dự án phải được triển khai theo đúng nghị quyết của Quốc hội đề ra.

Đề xuất chuyển đổi hình thức đầu tư có thể nói là “cực chẳng đã” trong bối cảnh các điều kiện khách quan đang tác động tiêu cực tới nền kinh tế trong nước. Tôi luôn nhấn mạnh, nếu còn giải pháp khác có thể thu hút được nguồn vốn xã hội Chính phủ vẫn phải làm. Nếu tình huống “bất khả kháng”, không còn giải pháp khả thi hơn, thì nhiệm vụ đầu tiên là phải sớm hoàn tất báo cáo trình Quốc hội thông qua chủ trương thay đổi hình thức đầu tư.

Tiếp đó phải thực hiện các quy trình theo Luật Đầu tư công, hoàn thiện hồ sơ dự án, tiến hành hủy kết quả sơ tuyển, chuyển đổi cơ cấu nguồn vốn; phân chia các gói thầu xây lắp và xây dựng kế hoạch lựa chọn nhà thầu theo chủ trương mới.

Tôi xin nhấn mạnh lại rằng đây là việc “cực chẳng đã” vì toàn cầu đang bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh, nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới có dấu hiệu ngưng trệ, sản xuất trong nước cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Quyết định đầu tư vào hạ tầng là một phương án tạo ra động lực phát triển mới cho nền kinh tế.
 
Đặt trong xu hướng nhiều nhà đầu tư nước ngoài muốn dịch chuyển nhà máy sang các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam để tránh dịch Covid-19, đây có thể coi như một bước chuẩn bị, tạo đà cho nền kinh tế bật lên sau đại dịch với những nguồn sung lực mới.

Điều tích cực là rất rõ ràng, nhưng về phía Quốc hội cũng cần xem xét thận trọng. Đây là dự án có tổng nguồn vốn đầu tư rất lớn. Một khi dự án được quyết định chuyển sang đầu tư công cũng sẽ làm thay đổi ngay nguồn cân đối chi tiêu ngân sách đã được trình Quốc hội hàng năm. Việc này có thể làm ảnh hưởng tới tỉ lệ chi tiêu vĩ mô. Rõ ràng đây là một quyết định không dễ dàng.

Đối với dự án này, khi được Quốc hội đồng ý cho chuyển đổi hình thức đầu tư phải được đưa ra đấu thầu, lựa chọn nhà thầu công khai nhằm ngăn chặn các hình thức biến tướng, chỉ định thầu làm sai lệch bản chất, làm giàu cho nhóm lợi ích.

Cao tốc Bắc-Nam: Hóa giải nỗi lo nhà đầu tư Trung Quốc

PV: Một vấn đề từng được nhiều chuyên gia lên tiếng là tính hiệu quả và tính cần thiết của dự án này. Theo đó, hầu hết các chuyên gia đều cho rằng triển khai dự án cao tốc Bắc – Nam thời điểm này chưa cần thiết, thay vào đó nên tận dụng khai thác triệt để công suất các trục đường quốc lộ cũ để tránh lãng phí, giảm gánh nặng cho ngân sách quốc gia.
 
Tuy nhiên, sau nhiều tranh cãi, dự án vẫn được triển khai. Cụ thể, đã có 3/11 dự án thành phần của tuyến cao tốc Bắc - Nam đang được triển khai bằng vốn đầu tư công. 8 dự án còn lại đang kêu gọi đầu tư. Đối với những dự án xin chuyển đổi này, có nên làm luôn cả ba dự án không, hay chỉ làm từng dự án rồi dựa trên xem xét đánh giá hiệu quả mới làm tiếp, thưa ông?

Ông Lê Việt Trường: Vấn đề tôi quan tâm nhiều hơn khi triển khai thực hiện các dự án thành phần thuộc dự án cao tốc Bắc – Nam là phương án kết nối, sử dụng nhằm tăng tính hiệu quả cho mỗi dự án khi hoàn thành. Từ chỗ kết nối sử dụng hiệu quả từng dự án, tiến tới kết nối với cả 8 dự án còn lại. Có như vậy dự án mới mang lại hiệu quả tốt nhất.

Chúng ta đã từng có kinh nghiệm khi thực hiện dự án đường mòn Hồ Chí Minh. Phương án khi đó là thực hiện theo hình thức cuốn chiếu, dự án xong tới đâu đưa vào khai thác sử dụng tới đó. Nhờ thế, dự án cũng phát huy được tính hiệu quả đối với nền kinh tế, xã hội, giảm bớt thời gian nằm chờ của dự án. Đây chính là bài toán tối ưu hóa trong đầu tư hạ tầng. Các dự án thành phần thuộc dự án này cũng nên thực hiện theo hình thức đó.

Nếu vậy, việc triển khai 3 dự án trên có thể vẫn tiến hành nhưng cần tránh tư duy triển khai dự án để giải quyết tình huống trước mắt. Đó là tình trạng không huy động được nguồn vốn xã hội hay đã có 3 dự án thành phần khác đã được triển khai nên 3 dự án này không thể dừng lại. Quyết định là dựa trên bài toán đầu tư tổng thể. Dự án được đầu tư phải phát huy hiệu quả ngay khi hoàn thành, không phải nằm chờ có đủ 8 dự án thành phần mới kết nối, khai thác được. Như vậy là thất bại!

PV: Xin cảm ơn ông!

Vũ Lan

Thứ Sáu, 20/03/2020 16:13

Sự Kiện