Đà Nẵng đặt mục tiêu 2030 là đô thị đáng sống

(Diễn đàn trí thức) - Chiến lược phát triển Thành phố Đà Nẵng trở thành đô thị sinh thái, sáng tạo, đô thị đáng sống, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững vào năm 2030.

Tại Diễn đàn khoa học "Hướng tới một chiến lược phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh cảnh trạng thái bình thường mới và biến đổi khí hậu toàn cầu" do Liên hiệp các Hội Khoa học- Kỹ thuật Việt Nam tổ chức hôm 1/7, bà Lê Thanh Tùng, Trưởng phòng Tổng hợp, Sở Kế hoạch và Đầu tư - TP. Đà Nẵng đã trình bày về chiến lược phát triển kinh tế- xã hội ở thành phố đến năm 2030.

Da Nang dat muc tieu 2030 la do thi dang song
Đà Nẵng đặt mục tiêu trở thành đô thị đáng sống vào năm 2030. Ảnh minh họa

Theo đó, chiến lược phát triển của Thành phố đến năm 2030 mang chủ đề: Xây dựng Đà Nẵng trở thành đô thị sinh thái, đô thị sáng tạo, đô thị đáng sống hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Thời điểm xây dựng chiến lược, TP. Đà Nẵng được định vị là “hạt nhân của chuỗi đô thị và cực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung - Tây Nguyên”. Trong những năm qua, Thành phố đã có những bước phát triển mạnh mẽ, toàn diện, trở thành thành phố biển năng động, sáng tạo, khai thác tốt các tiềm năng, thế mạnh. Kinh tế thành phố duy trì ở mức tăng trưởng khá cao.

Tuy vậy, quy mô kinh tế của Đà Nẵng vẫn còn nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và có xu hướng giảm nhẹ trong những năm gần đây. Tích lũy của nền kinh tế còn hạn chế, tỷ trọng GRDP thấp so với cả nước (chỉ chiếm 1,4%)

Đặc biệt, năm 2020 đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng tác động không nhỏ đến kinh tế thành phố, nhất là khu vực dịch vụ. Với cơ cấu của ngành này là trên 60%, ảnh hưởng của đại dịch COVI đã ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế chung của Thành phố.

Trong bối cảnh chung của quốc tế và khu vực, một số yếu tố chính được dự báo sẽ có tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế của Đà Nẵng trong khoảng 10 năm tới là các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam nói chung. Đại hội Đảng lần thứ XIII sẽ đề ra chiến lược phát triển kinh tế -xã hội Việt Nam đến 2030, tầm nhìn 2045, đưa đất nước hướng vào một chặng đường phát triển mới; phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; thuộc nhóm các nước có thu nhập trung bình cao: 8.000 USD/năm.

Đối với Đà Nẵng, có một số cơ chế, chính sách đặc thù cho thành phố Đà Nẵng như Nghị quyết 43 của Thành phố khẳng định Đà Nẵng được định vị trở thành một trong những trung tâm kinh tế xã hội lớn của cả nước và của khu vực Đông Nam Á. Kỳ họp Quốc hội tháng 6 vừa qua cũng cho phép thí điểm mô hình chính quyền địa phương và một số cơ chế chính sách đặc thù về đầu tư tài chính cho Thành phố Đà Nẵng.

Cùng với xu hướng vận dụng cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0, mở ra những động lực phát triển mới cho Thành phố.

Ngoài ra, liên kết phát triển vùng sẽ là xu hướng chính trong giai đoạn tới. Liên kết vùng nếu được phát huy hiệu quả thì sẽ đẩy mạnh vai trò trung tâm kinh tế của TP. Đà Nẵng, thúc đẩy các ngành dịch vụ logictics, các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh, đồng thời có thể giúp Đà Nẵng khắc phục được những bất lợi trong phát triển kinh tế về nguồn cung lao động hạn chế, quỹ đất, quy hô thị trường nhỏ của TP...

Bên cạnh đó, sự cạnh tranh quyết liệt của các thành phố biển trong khu vực miền Trung - Tây Nguyên, khu vực Đông Nam Á, tình hình phức tạp ở Biển Đông cũng như tác động của đại dịch COVID-19 được dự báo sẽ kéo dài qua những năm đầu của nhiệm kỳ 2020-2025 sẽ là những rào cản, thách thức cho phát triển kinh tế của Thành phố trong thời gian tới.

Thành phố Đà Nẵng có quan điểm rõ ràng trong chiến lược 30 năm tới. Cụ thể, cần tạo được sự đồng thuận trong hệ thống chính trị và toàn xã hội trong hiện thực hóa các mục tiêu kinh tế. Kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền biển, đảo, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, trật tự, an toàn xã hội.

Đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung-Tây Nguyên; Có sự kết nối chặt chẽ với các cực tăng trưởng, các trung tâm phát triển, các thành phố lớn trong cả nước và khu vực Đông Nam Á, Châu Á-Thái Bình Dương.

Định hướng đô thị sinh thái, hiện đại, thông minh, mang tầm quốc tế và có bản sắc riêng dựa trên việc khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng, lợi thế, trong đó chú trọng vị trí địa kinh tế và địa chiến lược, tài nguyên thiên nhiên, tiềm năng kinh tế biển của thành phố.

Tăng trưởng bền vững, có hiệu quả, phát triển theo chiều sâu, kết hợp với phát triển theo chiều rộng một cách hợp lý; Tạo lập điều kiện tốt nhất để phát huy vai trò của các thành phần kinh tế.

Tận dụng và phát huy hiệu quả kết nối, liên kết vùng, ứng dụng công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp.

Làm gì để Thành phố Đà Nẵng thực sự là đô thị đáng sống?

Đơn vị tư vấn đề xuất các mục tiêu 10 năm tới cho TP Đà Nẵng theo 3 kịch bản tăng trưởng cụ thể.

Kịch bản 1: bám sát Nghị quyết 43-NQ/TW, tập trung tăng trưởng GRDP giai đoạn 2021-2030 đạt trên 12%/năm. Theo kịch bản này, điều kiện để tăng trưởng giai đoạn 2021-2030 là các khu vực kinh tế phải có sự phát triển đột phá ngay từ những năm đầu của nhiệm kỳ. Trong đó, tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ phải tăng hơn giai đoạn 2016-2020 là 1,5 lần và khu vực công nghiệp-xây dựng phải tăng gấp hơn 2 lần.

Thực tế đây là một thách thức rất lớn của thành phố, mặt khác, tại thời điểm Thành phố tổ chức tổng kết Nghị quyết 33, xây dựng Nghị quyết 43 thì tăng trưởng bình quân của Thành phố giai đoạn 2016-2018 chỉ đạt được 7,93%, cơ bản đạt được mục tiêu của giai đoạn 2019-2020 là 8-9%. Tuy nhiên, dưới tác động của đại dịch COVID-19 thì tăng trưởng của thành phố chỉ ước đạt 1,25% đến cuối năm 2020.

Da Nang dat muc tieu 2030 la do thi dang song
Đà Nẵng định hướng phát triển du lịch gắn với bất động sản nghỉ dưỡng. Ảnh minh họa: Internet

Kịch bản 1 này dường như rất khó để Đà Nẵng thực hiện thành công.
 
Theo kịch bản 2: dựa trên kết quả thực hiện giai đoạn 2016-2020 với giả định duy trì tốc độ tăng và tỷ trọng đóng góp của các khu vực kinh tế; tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh 2010) giai đoạn 2021-2030 đạt khoảng 8-9%/năm.

Theo kịch bản này, thành phố có thể hoàn toàn thực hiện được mục tiêu đề ra tuy nhiên tốc độ tăng theo kịch bản này chưa thể hiện được sự nỗ lực cũng như chưa đáp ứng được kỳ vọng và thấp hơn nhiều so với mục tiêu của Nghị quyết 43.

Kịch bản 3: kết hợp giữa giả định duy trì tốc độ tăng và tỷ trọng đóng góp của các khu vực kinh tế như giai đoạn 2016-2020 và chủ trương đẩy mạnh phát triển theo Nghị quyết 43-NQ/TW.

Theo đó tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh 2010) giai đoạn 2021-2030 đạt 10-10,5%/năm trong đó một vài năm tăng trưởng đột phá trên 12%/năm (giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 10%/năm và giai đoạn 2026-2030 đạt trên 10,5%); tốc độ tăng bình quân các khu vực dịch vụ, công nghiệp và xây dựng, nông nghiệp lần lượt khoảng 11%; 9,6%; 2,8%.

Kịch bản này được đơn vị tư vấn đề xuất và đánh giá là khả thi và cơ bản đáp ứng được một số mục tiêu của Nghị quyết 43 và mức độ đột phá có thể nằm trong khả năng phấn đấu của thành phố, đặc biệt là trong điều kiện dự báo đại dịch COVID-19 có thể tác động đến những năm đầu của nhiệm kỳ như vào năm 2021, 2022.

Nếu Thành phố lựa chọn theo kịch bản số 3, đơn vị tư vấn nêu cụ thể một số mục tiêu và chỉ tiêu:
   
Khi có điều kiện thuận lợi, Thành phố phấn đấu tốc độ tăng bình quân GRDP (giá so sánh năm 2010) trên 12%/năm; Tốc độ tăng bình quân các khu vực dịch vụ, công nghiệp và xây dựng, nông nghiệp lần lượt khoảng 12,5-13,5%; 11,5-12%; 4-5%.

Cơ cấu các khu vực: dịch vụ, công nghiệp và xây dựng, nông nghiệp bình quân lần lượt là 76%; 22,5; 1,5% (không bao gồm phần thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm trong cơ cấu GRDP). Tỷ trọng tổng sản phẩm trên địa bàn so với cả nước đạt khoảng 2-3%.

Năm 2030, GRDP bình quân/người (giá hiện hành) đạt trên 8.500 USD.

Thu ngân sách trên địa bàn và tổng vốn đầu tư phát triển xã hội trên địa bàn bình quân tăng tương đương với tốc độ tăng bình quân GRDP trong năm tương ứng.

Tỷ lệ vốn đầu tư/GRDP khoảng 30-32%; Tỷ lệ vốn đầu tư ngoài Nhà nước và FDI/Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 75-80%; Chỉ số ICOR duy trì ở mức khoảng 5-5,7. Chỉ số đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp TFP (phần giá trị tăng trưởng do hoạt động khoa học và công nghệ) vào tăng trưởng GRDP đạt trên 45% vào năm 2030.

Định hướng phát triển các khu vực kinh tế, chiến lược bám sát vào Nghị quyết 43 với 3 đột phá chiến lược và 5 mũi nhọn.

Trong đó, khu vực dịch vụ tập trung phát triển các ngành dịch vụ chất lượng cao, nhất là du lịch, thương mại, cảng biển, hàng không gắn với dịch vụ logistics; giáo dục - đào tạo chất lượng cao, y tế chuyên sâu.. các ngành có khả năng cạnh tranh cao và kết nối với các trung tâm dịch vụ quốc tế trong khu vực ASEAN và thế giới.

Về du lịch, Đà Nẵng hướng tới xây dựng ngành du lịch gắn với bất động sản nghỉ dưỡng, xây dựng Đà Nẵng trở thành điểm đến du lịch, dịch vụ đẳng cấp, bản sắc tầm cỡ du lịch. Các nhóm sản phẩm du lịch chính: Du lịch biển với các mô hình nghỉ dưỡng đa dạng; du lịch MICE thúc đẩy bởi việc tổ chức sự kiện quốc tế và môi trường kinh doanh có năng lực cạnh tranh cao, du lịch golf; Du lịch sinh thái, tìm hiểu lịch sử, văn hóa vùng - ẩm thực; loại hình dịch vụ vui chơi giải trí có hoạt động cá cược theo quy định.

04 nhóm du lịch trọng tâm: Sơn Trà thành khu du lịch sinh thái cao cấp, gắn kết du lịch với bảo tồn thiên nhiên, sự đa dạng sinh học; Vịnh Đà Nẵng thành “đô thị biển” mang tính chất độc đáo, tạo nên điểm nhấn về kiến trúc và dịch vụ; Trung tâm thành phố với khu bảo tàng sống và trung tâm đô thị mới, phố mua sắm và nhà hàng truyền thống; và Các dự án vui chơi, giải trí, điểm du lịch ngoại vi và liên kết vùng.

Hướng đến hình thành chuỗi cung ứng dịch vụ logistics tại khu vực miền Trung, trong đó lấy Đà Nẵng là trung tâm logistics với hệ thống cảng biển (Tiên Sa, Liên Chiểu) và cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng là cửa ngõ giao nhận, vận chuyển với các địa phương, các quốc gia trong khu vực ASEAN và quốc tế

Khu vực công nghiệp - xây dựng, tập trung phát triển công nghiệp công nghệ cao; Phát triển công nghiệp công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông.

Định hướng ưu tiên phát triển: Công nghệ thông tin, truyền thông và công nghệ phần mềm tin học; Công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp, thủy sản và y tế; Công nghệ vi điện tử, cơ khí chính xác, cơ - điện tử, quang - điện tử và tự động hóa; Công nghệ môi trường, công nghệ năng lượng mới; Công nghệ vật liệu mới, công nghệ nano.

Xây dựng và phát triển Khu Công nghệ cao Đà Nẵng gắn với Khu đô thị sáng tạo - khoa học - công nghệ đạt đẳng cấp quốc tế, có tính cạnh tranh cao.

Xây dựng chiến lược tiếp cận, hội nhập, đón đầu xu hướng phát triển của ngành công nghệ thông tin trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông có công nghệ hiện đại, độ phủ rộng khắp với dung lượng lớn, tốc độ và chất lượng cao, cung cấp đa dịch vụ.

Khu vực nông nghiệp: Phát triển 3 lĩnh vực mũi nhọn chính để tạo sự tăng trưởng bền vững là: Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ; khai thác hải sản xa bờ gắn với dịch vụ hậu cần nghề cá; bảo vệ và phát triển rừng gắn với trồng rừng thâm canh cây gỗ lớn.

Phát triển 3 lĩnh vực mũi nhọn chính để tạo sự tăng trưởng bền vững là: Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ; khai thác hải sản xa bờ gắn với dịch vụ hậu cần nghề cá; bảo vệ và phát triển rừng gắn với trồng rừng thâm canh cây gỗ lớn.

Hình thành các khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch để tạo ra các sản phẩm sạch, thân thiện với môi trường.

Phát triển toàn diện và bền vững hoạt động đánh bắt xa bờ để có thể khai thác hết tiềm năng biển, đặc biệt là gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Đồng thời tập trung quản lý, bảo vệ diện tích 3 loại rừng.

Cúc Phương

Thứ Hai, 27/07/2020 10:37

Đọc nhiều nhất
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện