Dịch COVID-19 khiến chúng ta phải viết lại thế giới

(Diễn đàn trí thức) - Bối cảnh thế giới thay đổi toàn diện khi COVID-19 bùng phát tác động mạnh mẽ đến chiến lược 10 năm tới của Việt Nam.

Trình bày tại Diễn đàn khoa học "Hướng tới một chiến lược phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh trạng thái bình thường mới và biến đối khí hậu toàn cầu", PGS.TS. Lê Bộ Lĩnh- nguyên Phó Tổng Thư ký, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội đã đánh giá rằng, đại dịch toàn cầu đã mang đến một thế giới mới.

Dich COVID-19 khien chung ta phai viet lai the gioi
PGS.TS.  Lê Bộ Lĩnh - nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội

"COVID-19 đã đưa cho thế giới một tờ giấy trắng để chúng ta viết lại thế giới" - ông dẫn lời một nhà tương lai học nhận định.

Nhận định này cũng đã được thể hiện bởi một tuyên bố của Liên Hợp Quốc: "Đại dịch là một hồi chuông cảnh tỉnh chưa từng có, đặt ra sự bất bình đẳng sâu sắc và phơi bày chính xác những thất bại được đề cập trong Chương trình nghị sự 2030 về Phát triển bền vững và Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu."

Trạng thái bình thường mới tạm coi là hậu COVID-19 có một số đặc điểm: Suy thoái kinh tế toàn cầu ở mức khủng khiếp; Thế giới phải xem lại mô hình phát triển; Xem xét lại toàn cầu hóa; Xem xét lại đầu tư cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong bối cảnh mới.

Toàn cầu hóa về kinh tế đã diễn ra quá nhanh trong khi các lĩnh vực khác lại chưa đạt đến tiến trình đó. Đại dịch COVID-19 và sự lúng túng của tổ chức Y tế Thế giới trong việc ứng phó đại dịch đã đặt ra một vấn đề quan trọng: toàn cầu hóa phải cân bằng giữa các yếu tố kinh tế, văn hóa và y tế. 

Trong trạng thái bình thường mới, thế giới đối diện khủng hoảng kép là biến đổi khí hậu và đại dịch toàn cầu. Hiện có 2 quan điểm phát triển.

Một là, tập trung mọi nguồn lực "tiêu diệt" COVID-19 rồi mới mở cửa dần các ngành kinh tế thì chúng ta sẽ thiếu nguồn lực cho tăng trưởng xanh về biến đổi khí hậu, tiếp tục duy trì một nền kinh tế phát thải.

Hai là, song song cùng chống COVID-19 và cùng đầu tư cho biến đổi khí hậu. Thậm chí có quan điểm cho rằng, đại dịch COVID-19 càng cho thấy sự cần thiết của chương trình nghị sự phát triển bền vững 2030.

Trong bối cảnh này, Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển, viết tắt là UNCTAD (United Nations Conference on Trade and Development, hay Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hợp quốc), đã đưa ra 4 cân nhắc chính sách cho các quyết định tài trợ để đối phó với đại dịch COVID-19.

Một là, Hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) như một phần của các biện pháp khẩn cấp và các gói phục hồi,  chứ không phải chỉ hoàn toàn đầu tư cho phục hồi kinh tế sau đại dịch mà bỏ quên các nghiên cứu phát triển.

Hai là, xem xét lại và tăng cường các cam kết ngân sách để hỗ trợ R&D sau đại dịch. Thực chất là tất cả các nguồn ngân sách đều bị thắt chặt dẫn đến nguy cơ các đầu tư cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, bị cắt giảm.

Ba là, áp dụng cách tiếp cận có hệ thống để hoạch định chính sách bao gồm khoa học tự nhiên, kỹ thuật và khoa học xã hội.

Bốn là, đảm bảo các phản ứng chính sách hợp tác quốc tế và phối hợp.

Ông Lê Bộ Lĩnh cho rằng, hai giải pháp then chốt để vượt qua khủng hoảng hiện nay là đầu tư cho nghiên cứu khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo và phối hợp quốc tế.

Đối với Việt Nam, vốn đang chuyển sang mô hình tăng trưởng mới kể cả có phải đối mặt với COVID-19 hay không, thì cả hai vấn đề then chốt nêu trên vẫn rất đúng đắn. Trong đó, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phải là cốt lõi trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội. Bởi bản chất của chiến lược công nghiệp hóa là cách mạng công nghệ.

Từ cốt lõi của Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo mới định hình các ngành kinh tế-công nghệ liên quan. Ở đây cần làm rõ, để kinh tế gắn liền với công nghệ cần chú ý tới 5 lĩnh vực trọng tâm trong chiến lược 10 năm 2021-2030:

Một là xây dựng kinh tế nền tảng số.

Hai là nông nghiệp chất lượng cao, đặc biệt là trong bối cảnh khủng hoảng lương thực và biến đổi khí hậu. Nông nghiệp chất lượng cao sẽ còn bảo đảm vấn đề môi trường.

Ba là chiến lược kinh tế biển bền vững. Đây phải là ý tưởng trọng tâm.

Bốn là công nghiệp môi trường gồm các lĩnh vực: năng lượng sạch, thành phố thông minh, công nghệ cắt giảm khí thải..

Năm là công nghệ y học. Đại dịch COVID-19 đã cho thể giới thấy rằng, Việt Nam có lợi thế về nền y học. Hiện nay công nghệ y học chiếm khoảng 10% GDP thế giới.

"Chúng ta đừng coi đây là một vấn đề phúc lợi. Đây cần được coi là một ngành kinh tế với lợi nhuận không tưởng. Nếu có thể tìm ra được vaccine COVID-19 thì Việt Nam đã thành công trong việc biến thách thức thành cơ hội. Khẩu trang, các thử nghiệm xét nghiệm COVID-19... đã tạo nên tiếng vang của Việt Nam thời gian qua" -  ông Lê Bộ Lĩnh nêu rõ.

Vị chuyên gia nhấn mạnh, nền công nghiệp y học sẽ trở thành một nền công nghiệp trong tương lai của Việt Nam, giải quyết được cả kinh tế, sức khỏe và hạnh phúc của người Việt Nam.

Khuyến nghị thể chế và nguồn lực mới cho đầu tư khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo 

Ông Lê Bộ Lĩnh đã nêu một số khuyến nghị về thể chế vốn được Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development) và Ngân hàng Thế giới (World Bank) đã nêu ra từ năm 2014 đến nay vẫn còn giá trị:

Một là, cải thiện hiệu quả của chính sách đổi mới sáng tạo bằng thiết lập những mục tiêu tham vọng nhưng phải thực tế và khả thi.

Hai là, cải thiện sự phối hợp giữa các bộ, ngành.

Ba là, cải thiện sự tham gia của các bên ngoài nhà nước, quan trọng là của khu vực doanh nghiệp, vào hình thành các chiến lược và chính sách.

Bốn là, nâng cao năng lực thực hiện của chính phủ : Chuyên nghiệp hoá các cơ quan chính phủ với cấp độ đủ để hoạt động tự chủ và năng lực để giúp việc nâng cao thực hiện chính sách.

Năm là, đẩy mạnh cơ sở chứng cứ cho hoạch định chính sách bằng cách đẩy mạnh sử dụng các chỉ tiêu thống kê, phân tích chính sách và đánh giá kết quả trong quá trình hoạch định chính sách.

Sáu là, thiết lập hệ thống đánh giá kịp thời, minh bạch, hoạt động. Kết quả của đánh giá cần được phản ánh trong quá trình hoạch định chính sách.

Bảy là, nâng cao vị thế của chính sách KH, CN và ĐMST thông qua sự lãnh đạo có tầm nhìn và sự cam kết chính sách đối với phát triển KH, CN và ĐMST.

Cùng với các khuyến nghị về thể chế trong lĩnh vực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, việc phát triển nguồn nhân lực cũng cần hết sức chú trọng.

Trong đó, các giải pháp có thể hướng tới là: Nâng cao kinh phí cho giáo dục đại học; Cải thiện và hiện đại hoá chương trình đào tạo chính quy; Cải thiện sự phù hợp giữa giáo dục trong nhà trường và nhu cầu kỹ năng của thị trường lao động.

Bên cạnh đó, có thể chọn cách mở rộng các lựa chọn cho chuyên môn hoá chuyên nghiệp ở bậc giáo dục trung học và nâng cao chất lượng đào tạo nghề; Nâng cao kỹ năng của lực lượng lao động đang có; Sử dụng sự đối tác công tư (PPPs); Cải thiện kỹ năng của nhân lực khu vực công

Về nguồn lực đầu tư cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo cần thúc đẩy đầu tư của doanh nghiệp và đi cùng với việc cải cách đầu tư ngân sách cho lĩnh vực này.

Cúc Phương

Thứ Tư, 22/07/2020 14:41

Đọc nhiều nhất
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện