Đổi mới nền giáo dục tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

(Diễn đàn trí thức) - Nền giáo dục quyết định nhân lực quốc gia, nhân lực chất lượng cao không phụ thuộc vào bằng cấp cao đến đâu.

Nhân lực là nhân tố quyết định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Trình độ phát triển của nguồn nhân lực là thước đo chủ yếu sự phát triển, vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực. Nước ta luôn khẳng định quan điểm coi con người là trung tâm của sự phát triển, của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Doi moi nen giao duc tao nguon nhan luc chat luong cao
Ông PGS.TS Đinh Văn Chiến - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Nghiên cứu biên tập công trình KH&CN Việt Nam.

Theo ý kiến của PGS.TS Đinh Văn Chiến - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Nghiên cứu biên tập công trình KH&CN Việt Nam, tập trung vào giáo dục là vấn đề quan trọng nhất, mang tính quyết định đến chiến lược phát triển nguồn nhân lực.

Hiện nay, trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, phát triển nguồn nhân lực (NNL) được coi là khâu đột phá của chiến lược chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; đồng thời, phát triển NNL trở thành nền tảng của phát triển bền vững và tăng lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Việc phát triển nhân lực, một mặt, cần phải có tầm nhìn và chiến lược phát triển tổng thể và dài hạn, nhưng đồng thời, trong mỗi thời kỳ nhất định, cần xây dựng những định hướng cụ thể để từ đó đánh giá thời cơ, thách thức, những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân…, trên cơ sở đó đề ra mục tiêu và giải pháp thích hợp cho từng giai đoạn, phù hợp với bối cảnh kinh tế – xã hội trong nước và quốc tế.

Khi nói về NNL, người ta có thể đề cập đến 3 góc độ: số lượng (hay quy mô) NNL, chất lượng NNL và cơ cấu NNL. Số lượng NNL thể hiện thông qua chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng NNL. Về chất lượng, NNL được xem xét trên các mặt: sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực, phẩm chất, đạo đức… (hay còn gọi là thể lực- trí lực và tâm lực).

Trong đó, chất lượng NNL giữ vai trò quyết định sự tồn tại của một doanh nghiệp. Theo quan điểm của tổ chức Liên hiệp quốc, chất lượng NNL thể hiện: trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực, sức khỏe con người hiện có trên thực tế hoặc có tiềm năng để phát triển kinh tế – xã hội trong một cộng đồng.

Việt Nam đã và đang trong thời kỳ phát triển, hội nhập và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để thành công đòi hỏi phải đổi mới một cách căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo để từ đó tạo ra sự đột phá về chất lượng NNL, tạo tiền đề và là chìa khóa để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Công tác đào tạo phải được tiến hành một cách đồng bộ, toàn diện, phải thực sự trở thành trách nhiệm của mọi tổ chức và cá nhân, trong đó có vai trò quan trọng của các doanh nghiệp để không tụt hậu xa so với trình độ chung của các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới cần quan tâm và có các chính sách đổi mới công tác đào tạo phát triển NNL.
 
Trên thực tế, công tác đào tạo NNL hiện nay về cơ bản đáp ứng được những yêu cầu về hình thức đào tạo, chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy. Tuy nhiên, bên cạnh ưu điểm vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế.

Việc xác định nhu cầu đào tạo gặp rất nhiều khó khăn do người dân vẫn chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của học nghề. Vấn đề học nghề và hướng nghiệp vẫn chưa vượt qua định kiến về khoa cử bằng cấp, danh vị xã hội, do đó, nhu cầu về công nhân kỹ thuật rất lớn, nhưng số lượng tuyển sinh học nghề lại thấp.

Mặt khác, nhu cầu đào tạo hiện nay không xuất phát từ nhu cầu muốn nâng cao trình độ mà từ nhu cầu lên lương, lên chức dẫn đến đối tượng được đào tạo không đúng yêu cầu của công việc, ngược lại, xuất hiện bộ phận được đào tạo nhưng lại không được sử dụng. Tình trạng trên dẫn đến hiện tượng thiếu tuyệt đối công nhân kỹ thuật nhưng lại thừa tương đối những người đã qua đào tạo nhưng trình độ chuyên môn yếu.

Trong quá trình tổ chức các lớp đào tạo, các phương pháp khoa học mang tính khách quan để đánh giá nhu cầu đào tạo rất ít được sử dụng. Phần lớn nhu cầu đào tạo được xác định từ những đánh giá chủ quan của bộ phận phụ trách đào tạo. Hơn nữa, việc thu hút và mời nhà cung cấp các chương trình đào tạo đánh giá nhu cầu đào tạo thực sự cũng rất ít khi được thực hiện. Đào tạo hiện nay chưa phải là giải pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề của các cơ quan, doanh nghiệp nhưng những lớp học vẫn được tổ chức thực hiện.

Một vấn đề nữa hiện nay là việc thực hiện các chương trình đào tạo chưa được các doanh nghiệp, tổ chức chú ý đầu tư. Trên thực tế, có một nghịch lý là doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh yếu nhưng lại không quan tâm đến đầu tư cho đào tạo NNL chất lượng cao.

Bên cạnh việc đầu tư cho đào tạo còn hạn chế thì việc đánh giá các chương trình đào tạo cũng thể hiện sự bất cập. Đánh giá các chương trình đào tạo sử dụng các chỉ tiêu như: số lượng người được đào tạo, số lượng ngày, giờ đào tạo, số lượng chương trình đào tạo được thực hiện. Về thực chất, các chỉ tiêu này mới chỉ dừng ở mức độ thống kê khối lượng công việc được thực hiện mà chưa phản ánh hiệu quả công việc, cũng như tác động của đào tạo đối với cá nhân và tổ chức.

Các chỉ tiêu phản ánh mức độ thích hợp của các chương trình như về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức cũng như tác động của các chương trình đào tạo đối với việc nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ quản lý hầu như chưa bao giờ được thực hiện.

Nhân lực chất lượng cao không phải là bằng cấp thật cao

Có thể nói, những khó khăn, thách thức hiện nay đối với công tác đào tạo NNL chủ yếu đến từ quá trình hội nhập. Việc thành lập cộng đồng kinh tế ASEAN cho phép chuyển dịch lao động trong nội khối được cởi mở hơn, khiến Việt Nam có nguy cơ mất người tài do đãi ngộ kém. Việc dịch chuyển lao động toàn cầu cũng gây nguy cơ tương tự, mà biểu hiện đầu tiên là nhiều du học sinh không quay về nước phục vụ sau quá trình học tập ở nước ngoài.

Các khó khăn, thách thức còn đến từ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa bởi trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lao động chất lượng cao đóng vai trò quan trọng. Việt Nam cần tăng cường nhân lực chất lượng cao ở cả 3 nhóm: lãnh đạo quản lý, khoa học công nghệ và lao động kỹ thuật. Với điểm xuất phát khá thấp, việc bảo đảm cung cấp nhân lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện đang là thách thức rất lớn.

Tuy nhiên, vấn đề quan trọng nhất vẫn là thách thức trong chuyển biến tư duy nhận thức của mỗi người. Nền kinh tế đã và đang vận hành theo quy luật thị trường nhưng một loạt các vấn đề cốt lõi như: giáo dục và đào tạo, thống kê và dự báo, tuyển dụng và sử dụng… vẫn còn mang hơi hướng quan liêu tập trung, thậm chí còn ở mức lạc hậu. Ngay cả quan niệm về “nhân lực chất lượng cao” cũng có nơi, có lúc còn bị hiểu sai lệch, đồng nhất với bằng cấp.

Doi moi nen giao duc tao nguon nhan luc chat luong cao
Nhiều bằng cấp không phải là người có trình độ cao.

Vị chuyên gia cho rằng, nền KH&CN phát triển chẩm, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời ký công nghiệp hóa, hiện đại hóa, còn thua kém so với nhiều nước trong khu vực.Tỉ lệ ứng dụng vào sản xuất, đời sống còn thấp còn thiếu và yếu về dự báo khoa học. Việc tổng kết thực tiễn bị coi nhẹ.

Đội ngũ KH&CN tuy tăng về số lượng nhưng tỉ lệ trên số dân còn thấp so với các nước trong khu vực, chất lượng chưa cao. Còn thiếu cán bộ đầu ngành, chuyên gia giỏi, đặc biệt là chuyên gia về công nghệ.

Cùng với đó, cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ cho NCKH còn nghèo nàn, lạc hậu, thông tin KH&CN quá thiếu và không kịp thời. Đầu tư tài chính của nhà nước cho hoạt động KH&CN còn quá thấp. Nghị quyết 26 của Bộ chính trị (khóa VI) quy định mức đầu tư tối thiểu 2% tổng kinh phí ngân sách nhà nước cho KH&CN chưa được thực hiện nghiêm chỉnh (trong nhiều năm, tỉ lệ này chỉ dưới 1%). Việc phân bổ và sử dụng ngân sách cho KH&CN chưa hợp lý, chưa hiệu quả.

Ông Đinh Văn Chiến cũng đánh giá, Việt Nam hiện thiếu chiến lược quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nên mất cân đối về đào tạo và sử dụng, chế độ tiền nương mang nặng tính bình quân, lao động trí óc chưa được đãi ngộ xứng đáng.

Hãy hiểu đúng về nhân lực chất lượng cao

Để thực hiện chiến lược phù hợp phát triển nguồn nhân lực tại Việt Nam, vị chuyên gia đề cập tới 9 giải pháp.

Thứ nhất, định nghĩa lại (hoặc hiểu cho đúng) về NNL chất lượng cao. Hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này, nhưng NNL chất lượng cao phải đáp ứng được hai tiêu chí: năng lực và phẩm chất. Năng lực bao gồm các mặt như: trình độ chuyên môn nghiệp vụ, các kỹ năng tiếp thu và truyền đạt, khả năng tự học hỏi và đào tạo…

Phẩm chất bao gồm: đạo đức, tư cách, lòng say mê nghề nghiệp, ý chí vượt khó khăn…Đây chính là những tiêu chuẩn cơ bản trong lựa chọn cũng như đào tạo nhân lực chất lượng cao.

Thứ hai, xem lại mối liên kết trong chu trình: đào tạo; bố trí (tuyển dụng, phân công, thu hút); sử dụng; đãi ngộ. Chỉ cần trục trặc trong một khâu là các khó khăn về bảo đảm chất lượng nhân lực sẽ xuất hiện.
 
Thứ ba, đưa tư duy của kinh tế thị trường vào hàng loạt các chính sách về đào tạo, tuyển dụng, bố trí và đãi ngộ với nhân lực chất lượng cao, trong đó đặc biệt chú trọng công tác dự báo các nhu cầu của xã hội để định hướng cho việc đào tạo, cung ứng nhân lực; phải coi “sức lao động là hàng hóa” trong thu hút, đãi ngộ, tuyển dụng và phải luôn quan tâm đến quy luật cạnh tranh trong vấn đề cung ứng nhân lực.

Bốn là, phải phát huy lòng yêu nước, vì lợi ích chung của cộng đồng, hiếu học, cần cù, chăm chỉ vào mọi suy nghĩ, mọi hành động để đóng góp vào quá trình xây dựng và phát triển đội ngũ lao động chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Năm là, đổi mới công tác quản lý theo hướng tăng quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của các cơ sở đào tạo. Giao cho một số cơ quan nhà nước cùng với các tổ chức xã hội nghề nghiệp nhanh chóng xây dựng các cơ sở đánh giá và kiểm định chất lượng lao động qua đào tạo, cấp giấy phép hành nghề, đồng thời bắt buộc các doanh nghiệp phải tuyển lao động có giấy phép hành nghề. Có biện pháp để cơ quan quản lý nhà nước thường xuyên thu nhận thông tin phản hồi về mức độ hài lòng của các doanh nghiệp đối với “sản phẩm” đầu ra của các cơ sở đào tạo.

Sáu là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục nghề nghiệp gắn với tuyên truyền thực hiện Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, làm cho các cấp, các ngành và người dân, nhất là thanh thiếu niên hiểu được tầm quan trọng của giáo dục nghề nghiệp. Theo đó, cần đa dạng hóa nội dung, hình thức thông tin, tài liệu tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng, phương thức truyền thông.

Bảy là, có chính sách khuyến khích sinh viên theo học các ngành đặc thù như khai thác mỏ, lâm nghiệp,..( miễn học phí, cho hưởng phụ cấp hàng tháng và hỗ trợ tiền khi đi thực tập)

Tám là, phát triển hợp lý, hiệu quả các loại hình trường ngoài công lập đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Đối với đơn vị sử dụng lao động (bộ máy quản lý nhà nước và doanh nghiệp), cần tập trung tạo động lực để thu hút nhân tài theo hướng quan tâm đúng mức tới lợi ích kinh tế và danh dự cá nhân gắn với tinh thần dân tộc; thay đổi tiêu chí, chế độ tuyển dụng, đãi ngộ, sử dụng trên cơ sở tăng cường quyền lực trên thực tế cho lãnh đạo các cấp; thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch trong tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ nhân lực chất lượng cao, xóa bỏ các rào cản về tôn giáo, dân tộc trong việc chọn lựa người tài.

Doi moi nen giao duc tao nguon nhan luc chat luong cao

Cuối cùng, ông đề xuất tạo lập cơ chế chính sách mới trong đào tạo nguồn nhân lực và đội ngũ trí thức (giảm thuế nhập khẩu thiết bị công nghệ tiên tiến cho giảng dạy, miễn thuế cho sản phẩm trong thời kỳ sản xuất thử bằng công nghệ mới, chế độ khen thưởng về sáng chế, ứng dụng công nghệ mới…)

Cúc Phương

Thứ Hai, 19/10/2020 11:05

Van Kien Dai Hoi
Đọc nhiều nhất
Sự Kiện