Lấy nguồn tài chính nào để đầu tư cho trí thức?

(Diễn đàn trí thức) - Nghị quyết số 27 xác định đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững nhưng phương hướng này vẫn vướng tồn tại, hạn chế.

Theo PGS.TS Đặng Văn Thanh- Chủ tịch Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam, trong 35 năm cải cách và đổi mới kinh tế, nhiều chủ trương, chính sách về Khoa học công nghệ, về đội ngũ trí thức đã được ban hành và thực thi rất hiệu quả.

Lay nguon tai chinh nao de dau tu cho tri thuc?
Chủ tịch Hội Kế toán và Kiểm toán Đặng Văn Thanh

Đội ngũ trí thức là nguồn lực quan trọng và đặc biệt quan trọng trong cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, trong sự nghệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, đặc biệt là trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, cách mạng công nghệ số, tạo nên sức mạnh của quốc gia trong việc hoạch định và triển khai chiến lược phát triển đất nước. Vấn đề đặt ra là để phát huy vai trò, tăng cường sự đóng góp của Trí thức Khoa học công nghệ, cần có những chính sách, giải pháp đầu tư và huy động nguồn lực tài chính để xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam.

Nhà nước luôn luôn coi trọng và đánh giá cao vai trò, vị trí của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. 

Nhờ vậy, đội ngũ trí thức của Việt Nam đã phát triển nhanh về số lượng và nâng cao về chất lượng, phát huy vai trò trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Đội ngũ trí thức đã đóng góp tích cực vào xây dựng những luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; trực tiếp đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu, sáng tạo ra những công trình có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật; từng bước nâng cao trình độ khoa học và công nghệ của đất nước, vươn lên tiếp cận với trình độ của khu vực và thế giới, tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao.

Đặc biệt, số trí thức trẻ năng động, sáng tạo, thích ứng nhanh với kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng nhiều.

Cùng với trí thức trong nước, có hàng nghìn trí thức Việt kiều đang sinh sống và làm việc ở hơn 100 quốc gia, vùng lãnh thổ hướng về Tổ quốc, trong đó nhiều người đã về nước làm việc, đóng góp tích cực, có hiệu quả vào sự phát triển đất nước. Tuy nhiên, so với yêu cầu còn tồn tại một số hạn chế. Chỉ số Kinh tế tri thức (KEI) và Chỉ số tri thức (KI); năng suất lao động của người Việt Nam còn thấp.

Về nguồn lực Ngân sách nhà nước (NSNN) đầu tư cho Khoa học công nghệ đã có những chuyển động tích cực hơn theo hướng tăng đầu tư cho các đề tài cấp quốc gia; tăng đầu tư vào khu vực trọng điểm. Bên cạnh đó, sự tham gia của xã hội, huy động nguồn lực xã hội cho phát triển KH&CN cũng được quan tâm nhiều hơn.

Về cơ chế tài chính cho KH&CN đã thường xuyên đổi mới, đặc biệt là cơ chế tài chính cho các đề tài dự án. Với sự đổi mới này, 3 năm gần đây, cơ chế thanh toán, quyết toán kinh phí KH&CN đã có tiến bộ rất lớn. Những khó khăn, vướng mắc trong thanh toán, quyết toán các đề tài KH&CN thường được nhắc đến trước đây nay hầu như không còn. 

Đáng chú ý, các Thông tư 55, 27 (Thông tư liên tịch số: 55/2015/TTLT-BTC-BKHCN và 27/2015/TTLT-BKHCN-BTC) trong lĩnh vực tài chính cho KH&CN đã có bước đổi mới toàn diện, theo tinh thần khoán và khoán tới sản phẩm cuối cùng. Theo tinh thần đổi mới này, người giao nhiệm vụ phải tự tuyển chọn, tự chịu trách nhiệm với kết quả đầu ra. Các quy định mới rất đề cao trách nhiệm của các cơ quan tuyển chọn đề tài, dự án, chủ đề tài dự án, chú trọng đơn giản hóa thủ tục hành chính, đặt niềm tin nhất định, trách nhiệm nhất định vào các cơ quan, chủ đề tài dự án.

Tuy nhiên đầu tư cho Khoa hoc công nghệ, việc huy động nguồn lực cho KH&CN, cho phát triển đội ngũ trí thức còn nhiều hạn chế cả về nguồn lực, về chính sách và còn không ít vướng mắc về cơ chế, trong đó có cơ chế tài chính.

Những hạn chế của đội ngũ trí thức, của đầu tư và huy động nguồn lực cho phát triển đội ngũ trí thức do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu do thiếu chiến lược phát triển đội ngũ trí thức.

Bên cạnh đó, hành lang pháp lý bảo đảm môi trường dân chủ và tự do học thuật chưa đồng bộ.

Về chính sách tài chính trong một số lĩnh vực như khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế, văn học, nghệ thuật,... còn bất cập, dẫn đến một số trí thức làm việc còn đối phó, chất lượng, hiệu quả công việc chưa cao. Chính sách và  giải pháp thu hút trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giải quyết những vấn đề của đất nước chưa đủ mạnh. 

Dùng ngân sách xây dựng Khu công nghệ cao quốc giao

Vị chuyên gia cho rằng, để xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và phát triển kinh tế xã hội trong nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, cần triển khai nhiều giải pháp, trong đó và trước hết cần tập trung huy động mọi nguồn lực, tăng cường đầu tư tài chính.

Giải pháp thứ nhất theo ông Đặng Văn Thanh là tăng cường đầu tư từ Ngân sách nhà nước, từ nguồn quỹ công để  xây dựng các trung tâm nghiên cứu và chuyển giao KH&CN hiện đại, các khu công nghệ cao quốc gia. Tập trung đầu tư, xây dựng và phát triển một số Trường đại học trọng điểm quốc gia theo mô hình tiên tiến của thế giới để thúc đẩy hoạt động sáng tạo của trí thức trong và ngoài nước, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao.

Nhà nước cần giành sự quan tâm đặc biệt và tăng cường đầu tư phát triển nâng cao vị thể của Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt nam (VUSTA). Cần đảm bảo để VUSTA là tổ chức tập hợp, là diễn đàn, là mái nhà chung của Trí thực Việt Nam. Trong đó, VUSTA cũng cần đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động tạo môi trường lành mạnh, thuận lợi để phát huy năng lực sáng tạo và nâng cao phẩm chất đạo đức của đội ngũ trí thức.

Thứ hai là huy động nguồn lực và tăng thêm nguồn lực tài chính đầu tư để đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ trí thức. Xây dựng và triển khai Chiến lược, Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030. 

Hướng dẫn và tổ chức triển khai Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục (năm 2018) và Luật Giáo dục đại học (năm 2018). Khắc phục có hiệu quả những vướng mắc trong quá trình chuyển đổi mô hình các Trường công lập và tư thục. Cùng với đó, rà soát, quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục, nghiên cứu gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực; rà soát, xây dựng và ban hành hệ thống tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp; vị trí việc làm, định mức lao động, chế độ làm việc; nội dung và hình thức thi, xét nâng hạng chức danh nghề nghiệp.

Thứ ba, đổi mới các kênh huy động nguồn lực và phân bổ nguồn lực cho xây dựng và phát triển tri thức. Cùng với các quy định: Áp dụng cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng; Cấp kinh phí thực hiện nhiệm vụ KHCN sử dụng NSNN thông qua hệ thống Quỹ Phát triển KHCN, cần có các quy định khuyến khích và buộc Doanh nghiệp nhà nước hàng năm phải trích từ 3% - 10% thu nhập tính thuế thu nhập Doanh nghiệp để lập Quỹ Phát triển KHCN của Doanh nghiệp.  

Hiện nay, mức chi từ NSNN cho Khoa học và công nghệ nhìn chung còn thấp so với các nước, vì vậy có thể nói, do quy mô NSNN hạn chế nên chi NSNN cho hỗ trợ đổi mới công nghệ còn khiêm tốn. Việc phân bổ NSNN phát triển các yếu tố của thị trường KHCN còn dàn trải và phân tán từ các bộ, ngành tới các địa phương và điều đó đang trở thành rào cản lớn, hạn chế phát triển nguồn cung công nghệ trên thị trường.

Việc phân bổ chưa đảm bảo theo những tiêu chí rõ ràng, thiếu cơ chế cạnh tranh minh bạch, phân tán nên hiệu quả đầu tư thấp, chế độ lương bổng không cao, cơ sở vật chất thiếu hụt… tác động làm kìm hãm phát triển của thị trường KH&CN thời gian qua.

Những tồn tại về sử dụng các công cụ tài chính trong các kênh dẫn vốn cần phải được khắc phục và có giải pháp để phục vụ mục tiêu phát triển thị trường KH&CN. Vì thế, cần có những giải pháp kịp thời nhằm thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả các công cụ tài chính, huy động vốn cho việc phát triển thị trường KH&CN.
 
Ông Thanh cho rằng, cần sớm thiết lập mạng lưới sàn giao dịch công nghệ kèm theo hệ thống tổ chức dịch vụ KHCN hỗ trợ, trọng tâm là TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội và Đà Nẵng. Để thực hiện mô hình phát triển bền vững phải dựa vào phát triển KH&CN, do đó cần tạo ra nhiều cơ hội cho KH&CN và thị trường KH&CN phát triển.
 
Thứ tư,
tạo lập môi trường phát huy vai trò của trí thức. Tăng cường thực thi việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, nhằm bảo đảm lợi ích của trí thức khi chuyển giao phát minh, sáng chế và khuyến khích đội ngũ trí thức gia tăng sự cống hiến. 

Thứ năm, cần hoàn thiện hơn nữa chính sách tài chính về sử dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức, đặc biệt là đối với trí thức đầu ngành, những người được giao chủ trì nhiệm vụ KH&CN quan trọng của quốc gia, trí thức trẻ tài năng. Có chính sách đãi ngộ, khen thưởng đối với tác giả các công trình được công bố quốc tế, các sáng chế được bảo hộ trong và ngoài nước.

Thứ sáu, thực hiện chủ trương phân cấp và trao quyền tự chủ, tự quản lý, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ, các cơ sở đào tạo trong việc bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo và các chức danh khoa học trên cơ sở các tiêu chuẩn của Nhà nước; trong việc sử dụng nhân lực và tài chính theo nhu cầu của đơn vị. 

Thứ Bảy, đổi mới hơn nữa cơ chế và quy trình giao và đánh giá nghiệm thu các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Đối với các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học nên thực hiện nhiều hơn theo cơ chế khoán kinh phí đến sản phẩm KH&CN cuối cùng theo kết quả đầu ra. Đổi mới cách thức đánh giá và nghiệm thu kết quả nghiên cứu; giảm bớt tối đa thủ tục hành chính trong hoạt động khoa học và công nghệ. Cần có cơ chế và phương thức giúp doanh nghiệp xác lập  một cách có hệ thống về quyền sở hữu, sử dụng các kết quả nghiên cứu khoa học có sử dụng NSNN.

Đồng thời xác định quyền sở hữ các dự án nghiên cứu liên quan đến việc xử lý hai loại tài sản hữu hình và vô hình, tạo cơ sở để các tổ chức KH&CN tiếp tục phát triển, thương mại hoá, phát huy thế mạnh, từ đó có thể tự chủ mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.

Thứ tám, đổi mới Chính sách tài chính cho phát triển thị trường KH&CN. Cần tạo dựng và tăng cường phát triển Thị trường KH&CN trên cả 5 yếu tố cơ bản: Khung pháp lý cho các giao dịch trên thị trường, bên mua, bên bán, cơ sở hình thành giá cả và các hoạt động hỗ trợ dịch vụ xúc tác giữa người mua và người bán.

Lay nguon tai chinh nao de dau tu cho tri thuc?
Đổi mới Chính sách tài chính cho phát triển thị trường KH&CN

Đây là chính sách của Nhà nước nhằm huy động, quản lý và sử dụng tiền tệ để phát triển thị trường KHCN theo các mục tiêu và định hướng phát triển của Nhà nước đặt ra.

Có thể thấy, hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về thuế đã có những ưu đãi nhất định về mặt chính sách thuế dành cho thị trường công nghệ. Tuy nhiên, trong thực tế thị trường vẫn chưa phát triển được như kỳ vọng. Cơ chế để tiếp cận nguồn vốn đầu tư nghiên cứu và phát triển công nghệ còn nhiều khó khăn do quy định vay vốn, hỗ trợ lãi suất hoặc bảo lãnh tín dụng còn nhiều bất cập.

Các quỹ KHCN cấp Quốc gia, tỉnh/thành, bộ/ngành được sử dụng chủ yếu là để tài trợ, cho vay với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ lãi suất, bảo lãnh... đối với các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động phát triển công nghệ. Thực tế, mức trích lập các quỹ còn thấp chưa đạt quy định.

Thứ Chín, Có chính sách, trong đó có chính sách tài chính tăng cường thu hút nguồn lực, nguồn trí tuệ, thu hút đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài.

Cúc Phương

Thứ Hai, 19/10/2020 14:23

Van Kien Dai Hoi
Đọc nhiều nhất
Sự Kiện