LHH Việt Nam là điều kiện cần thiết của Nhà nước

(Diễn đàn trí thức) - Hoạt động tập hợp trí thức, phổ biến kiến thức, phản biện xã hội, LHH Việt Nam là một điều kiện cần thiết của Nhà nước.

Tại Diễn đàn khoa học "Vai trò, trách nhiệm của Liên hiệp các Hội Khoa học - Kỹ thuật Việt Nam trong sự phát triển đất nước" được Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức sáng 8/11, GS. Nguyễn Vi Khải - Nguyên Viện trưởng Viện Chủ nghĩa Xã hội Khoa học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã có bài tham luận. Báo Đất Việt xin đăng tải toàn văn tham luận này:

1. Liên Hiệp Hội Việt Nam có vai trò như một Think Tank

- Khái niệm Think Tank “ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT” – (conditio sine qua non) là cách diễn đạt của C. Mác về mối quan hệ giữa Nhà nước chính trị với các tổ chức xã hội trong tác phẩm “Góp phần Phê phán Triết học pháp quyền của Hê ghen” [1]

LHH Viet Nam la dieu kien can thiet cua Nha nuoc
Nguyễn Vi Khải - Nguyên Viện trưởng Viện Chủ nghĩa Xã hội Khoa học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

- Định nghĩa Think Tank theo nghĩa rộng “Think Tank hay Viện chính sách (tiếng Anh: think tank, tiếng Hán-Việt: Tăng duy) là một tổ chức hoặc nhóm các cá nhân hoạt động nghiên cứu đưa ra các tư vấn về chính sách, chiến lược trong các lĩnh vực, ban đầu là quân sự, sau đó mở rộng sang các lĩnh vực khác như chính trị, kinh tế, giáo dục, khoa học - kĩ thuật”. [2]

- Theo định nghĩa hẹp hơn – gắn với hoạt động cụ thể của các Tổ chức xã hội (TCXH) thì Think Tank là tổ chức dân lập, hoạt động độc lập với chính quyền. Think Tank không nghiên cứu quy luật phát triển của xã hội hoặc thiên nhiên mà tập trung nghiên cứu hình thành các giải pháp, quyết sách có tính khả thi nhằm đối phó tình hình trong một thời kỳ nhất định. Các kết quả này thông thường được công bố trên các ấn phẩm, các phương tiện truyền thông và các hình thức trao đổi thông tin khác nhằm tranh thủ sự tán thành của công chúng và sự chú ý của lãnh đạo quốc gia.

- Think Tank xuất hiện là do nhu cầu của thời đại. Thời đại càng tiến lên, các vấn đề cần xử lý ngày một nhiều, tới mức hệ thống nghiên cứu-tư vấn của nhà nước không thể xử lý hết. Thực tế cho thấy hệ thống này thường có mặt hạn chế, chủ yếu do bị chi phối bởi quan điểm của nhà nước nên thiếu tính khách quan. Ngoài ra sự phát triển tất yếu... dẫn tới xu hướng “chính phủ nhỏ, xã hội lớn” dần dần thay thế bộ máy nhà nước cồng kềnh kém hiệu quả... (Nguyễn Hải Hoành).
 
- Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (Liên Hiệp Hội Việt Nam) là một tổ chức Chính trị xã hội đại diện cho giới trí thức – có vai trò trách nhiệm vị thế của một Think tank. Liên hiệp Hội có mối quan hệ “tương thích” với nhà nước, thị trường nhìn từ triết lý phát triển biện chứng giữa cấu trúc và chức năng – cấu trúc nào chức năng ấy – chức năng quy định cấu trúc ngược lại cấu trúc thể hiện, tác động theo chức năng.

- Xã hội loài người phát triển cùng với sự hình thành 3 thực thể là Nhà nước – Thị trường – và các Tổ chức xã hội. Ba thực thể này có 3 vị thế khác nhau nhưng cũng là 3 mỗi quan hệ tương tác với nhau theo một mục tiêu chung của phát triển. Mức độ phát triển bền vững đạt tới trình độ nào tùy thuộc vào sự tương tác đó.

- Nếu như nhà nước có hệ thống thiết chế theo chiều dọc 4 cấp và hệ thống pháp luật mang tính bắt buộc thì các tổ chức xã hội như Liên Hiệp Hội Việt Nam lại là mối quan hệ theo chiều ngang thường chỉ có 2 cấp và không bắt buộc mà chỉ là tự nguyện theo quy chế, điều lệ... Còn thị trường lại mang tính chất liên hệ đa chiều theo thỏa thuận của quy luật giá cả, cung cầu – trao đổi, thương thảo... Sự khác nhau này tạo cho xã hội một quá trình cân bằng động giữa 3 cột trụ.

2. Vai trò vị thế của Liên Hiệp Hội Việt Nam với nhà nước, thị trường qua mối quan hệ giữa cấu trúc và chức năng

- Liên Hiệp Hội Việt Nam là tổ chức được xác lập theo tinh thần Chỉ thị 42 – CT/TW ngày 16/04/2010 của Bộ chính trị. Liên Hiệp Hội Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ - là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

- Mục đích hoạt động của Liên hiệp Hội Việt Nam là tập hợp, đoàn kết, phát huy sức sáng tạo của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng nền kinh tế tri thức, góp phần bảo vệ Tổ quốc và thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. [4]

- Liên Hiệp Hội Việt Nam được đánh giá cao vì kết quả quá trình hoạt động hơn 1/4 thế kỷ, đáp ứng được mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ đã đề ra. Liên Hiệp Hội Việt Nam và các tổ chức thành viên thực sự là nơi thu hút lực lượng trí thức trong suốt quá trình Cách mạng của Việt Nam với những đề xuất chương trình tư vấn giám sát, phản biện xã hội về các chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước. Nhất là trong quá trình Đổi mới - thực hiện Nghị quyết 27/ NQ-TW của Ban chấp hành Trung ương về Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

- Thực ra quá trình hình thành Liên hiệp Hội đến nay cũng có thời gian hơn 1/3 thế kỷ - được thành lập theo Quyết định số 121/HĐBT ngày 29/7/1983 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Hệ thống tổ chức của Liên hiệp hội Việt Nam khi thành lập có 15 hội thành viên.

- Hiện nay, con số đó đã lên đến 148 trong đó có 86 hội ngành toàn quốc và 63 Liên hiệp hội địa phương. Ngoài ra, trong hệ thống của Liên Hiệp Hội Việt Nam còn có hơn 500 đơn vị nghiên cứu khoa học và công nghệ được thành lập theo Nghị định 81 (nay là nghị định 08); trên 200 tờ báo, tạp chí, báo điện tử, bản tin, đặc san, trang tin điện tử.

- Trải qua chặng đường khá dài gắn với công cuộc Đổi mới , Liên Hiệp Hội Việt Nam đã thực hiện tốt hiệu quả theo tôn chỉ mục đích, chức năng nhiệm vụ xứng đáng là tổ chức đại diện cho trí thức Việt Nam. Mấy năm gần đây Liên Hiệp Hội Việt Nam có nhiều hoạt động thiết thực theo yêu cầu mới tăng cường vai trò tư vấn giám sát & phản biện xã hội trước những vấn đề có tầm chiến lược vĩ mô... (như việc sửa đổi bổ sung Hiến pháp, xây dựng hoàn thiện nhiều bộ luật, các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước... theo tinh thần của Quyết định 217/QĐ/TW, Quyết định 501/ QĐ-Ttg...)

- Tuy nhiên, hoạt động của Liên Hiệp Hội Việt Nam còn nhiều tồn tại cần được nhận biết để đáp ứng thời kỳ mới của hội nhập và phát triển.

- Thứ nhất, tồn tại có tính tổng quát: “công tác hội hiện nay gặp rất nhiều khó khăn dưới tác động của đổi mới cơ chế, chính sách đặc biệt là quá trình thực hiện tinh giản bộ máy hành chính, biên chế, ngân sách cấp cho các hội thành viên Liên Hiệp Hội Việt Nam. Quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức, kinh phí hoạt động hàng năm của Liên hiệp hội địa phương theo hướng hưởng một phần ngân sách sang mô hình tự chủ, tự hạch toán, nhận và thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do Đảng và Nhà nước giao đang được thực hiện quá nhanh tại một số địa phương... còn nhiều vướng mắc về cơ chế, chính sách nảy sinh trong thực tiễn, chưa có hướng giải quyết dẫn đến khó khăn trong công tác hội và công tác vận động trí thức. Nhiều địa phương còn chưa hiểu đúng về các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, còn chủ quan, duy ý chí trong việc thực thi chính sách quản lý đối với Liên hiệp hội địa phương nói riêng và công tác đoàn kết vận động trí thức nói chung. [5]

- Thứ hai, một số cơ chế, chính sách và phương thức quản lý đội ngũ trí thức và hoạt động còn có những bất cập, hạn chế, chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi, thậm chí cản trở sự sáng tạo và cống hiến của đội ngũ trí thức. Các cơ chế, chính sách nặng về hành chính, bị hành chính hóa, không phù hợp với đặc điểm và tính đặc thù của lao động trí óc, lao động sáng tạo,... chính sách phát triển khoa học, đầu tư nghiên cứu chưa tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích giới trí thức tham gia sáng tạo, có quá nhiều thủ tục hành chính rườm rà dẫn đến tình trạng kìm hãm sự phát triển. Trong thực tế, hoạt động KHCN đã bị hành chính hóa từ lâu và rất nặng nề. Có lẽ rất khó và rất lâu nữa để có thể khắc phục được tình trạng này nếu không có sự quyết tâm, quyết liệt của cả hệ thống chính trị. Các cơ chế, chính sách như: phát hiện, tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh,... có nhiều bất cập nên chưa thể xây dựng được đội ngũ trí thức mạnh, chưa phát huy tối đa chất xám, sự sáng tạo của trí thức. Đây là nguyên nhân rất căn bản hạn chế việc phát huy vai trò của đội ngũ trí thức hiện nay.

- Ví dụ, những năm qua, mỗi đề tài cấp Nhà nước khi triển khai, chủ nhiệm và thủ trưởng cơ quan chủ trì mỗi người phải ký ít nhất 1.200 chữ ký, giám đốc sở phải ký ít nhất 100 chữ ký; Cán bộ nghiên cứu khoa học không có thâm niên, thang lương hành chính, không được nâng lương khi nâng học hàm, học vị... [6]

3. Vai trò trách nhiệm của Liên hiệp Hội trong giai đoạn mới

- Thế giới bước sang thế kỷ 21 được 1/5 thời gian, nhiều nước đã vượt qua 3 cung bậc phát triển của Cách mạng công nghệ (CMCN) – các quốc gia này đã và đang đạt nền móng cho Cách mạng công nghệ 4.0. Đây là tác động kép với sự phát triển của Việt Nam: cơ hội và thách thức đan xen nhau; Thuận lợi và khó khăn sẽ cùng hiện diện...Vai trò của nguồn nhân lực nói chung của trí thức nói riêng có thể coi như là chìa khóa của sự phát triển bền vững Liên Hiệp Hội Việt Nam- Tổ chức đại diện cho hàng triệu trí thức có vai trò đặc biệt để trở thành một Think tank.

- Vấn đề thu hút, trọng dụng nhân tài ở nước ta đã được đặt ra từ lâu nhưng đến nay vẫn đang là vấn đề thời sự và ngày càng trở nên cấp bách cả về lý luận và thực tiễn bởi nó có ý nghĩa góp phần quyết định đối với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, trong điều kiện tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

- Phải chăng xây dựng Chiến lược đào tạo sử dụng nhân tài là trọng tâm của toàn Đảng toàn Dân và các tổ chức xã hội... Trong đó Liên hiệp Hội không thể đứng ngoài cuộc. Tuy nhiên, Đề án “Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng nhân tài” gần đây được khởi động do Bộ Nội Vụ chủ trì phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương và các cơ quan liên quan – từ Diễn đàn khởi động này cho thấy: Đề án “Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng nhân tài” theo hướng không phân biệt đảng viên hay người ngoài Đảng, người Việt Nam ở trong nước hay ở nước ngoài. Đồng thời, quy định khung cơ chế chính sách ưu đãi để phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài có trọng tâm, trọng điểm, nhất là các ngành, lĩnh vực mũi nhọn nhằm phục vụ cho sự phát triển nhanh, bền vững đất nước.[7]. Không chỉ là quan điểm chủ trương của Đảng và Nhà nước mà còn là một khâu đột phá trong hành động.

- Theo thông tin trên báo chí không thấy bóng dáng đường nét của LHH – xin nêu vấn đề để dựa vào các Văn bản đã được khẳng định vai trò vị thế, trách nhiệm và chức năng của LHH chúng ta sẽ có chương trình hợp tác cùng Bộ ngành liên quan Nhiệm vụ tư vấn GS PBXH chuyên nghiệp (QĐ 501/Ttg) cũng đã hiện thực hóa hơn 3 năm có lẽ cần được đánh giá sơ bộ nhân dự án này triển khai.

- Vấn đề nổi lên mà dự án đã khẳng định là: “không phân biệt đảng viên hay người ngoài Đảng, người Việt Nam ở trong nước hay ở nước ngoài” – đây là nội dung cần quán triệt và nghiêm tục thực hiên tốt khi hội nhập giữa không gian và thời khắc của CMCN 4.0.

- Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có những quan tâm chú trọng đến việc thu hút trí thức Việt Nam ở nước ngoài tham gia xây dựng đất nước. Hiện nay, ngoài trí thức trong nước, có khoảng hơn 400.000 người trí thức Việt kiều (trong đó có hơn 6.000 tiến sĩ và hàng trăm trí thức tên tuổi được đánh giá cao) trên tổng số hơn bốn triệu người Việt Nam đang sinh sống ở gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Ước tính có tới 15.000 trí thức Việt kiều tại Hoa Kỳ, 40.000 trí thức tại Pháp, 20.000 trí thức tại Ca-na-đa, 4.000 trí thức tại Đông  Âu và Liên bang Nga, 7.000 trí thức tại Ô-xtrây-li-a... Đây là nguồn nhân lực quan trọng của đất nước, rất cần được phát huy và tạo điều kiện để họ góp phần xây dựng quê hương, đất nước giàu mạnh. [8]
 
- Công tác quy tụ, tập hợp đội ngũ trí thức Việt Nam ở ngoài nước đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trọng. Người đã mạnh dạn sử dụng nhiều nhân sỹ, trí thức yêu nước phục vụ cho nhà nước cách mạng. Trong số họ, có nhiều người đã từng học tập, làm việc ở nước ngoài, có người đã từng tham gia bộ máy của chế độ cũ, như ông Nguyễn Văn Huyên, Tạ Quang Bửu, Đặng Văn Ngữ, Lương Đình Của, Vũ Đình Hòe, Trần Đại Nghĩa, Huỳnh Thúc Kháng... Họ đã có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

- Theo số liệu của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao, “hằng năm có khoảng 300 lượt trí thức người Việt Nam ở nước ngoài về nước làm việc, tham gia các chương trình hợp tác nghiên cứu và triển khai khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo... Đặc biệt, tháng 12/2017, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài đã tổ chức “Diễn đàn kết nối các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo của người Việt tại Hoa Kỳ và Việt Nam” tại San Francisco và New York, Mỹ, thu hút sự tham dự của gần 150 đại biểu bao gồm các cơ quan chức năng và doanh nghiệp khởi nghiệp của Việt Nam, đại diện một số quỹ đầu tư, vườn ươm khởi nghiệp, chuyên gia khởi nghiệp của Hoa Kỳ và các doanh nghiệp khởi nghiệp thành công của người Việt tại Hoa Kỳ”.[9]

4. Kết luận

- Với chức năng, nhiệm vụ như Điều lệ quy định, Liên hiệp Hội có trách nhiệm và vai trò rất quan trọng trong nửa đầu thế kỷ 21 hiện nay.

Phải chăng đó là cần xây dựng Chương trình hoạt động có tầm Chiến lược như:

- Chiến lược thu hút – đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng cuộc CMCN 4.0 – bao gồm phát hiện, sử dụng, bồi dưỡng, tôn vinh... nhân tài trong và ngoài nước.

- Chiến lược phát huy tiềm năng của các tổ chức thành viên là tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp... trong và ngoài nước. 

- Chiến lược phát huy vai trò tư vấn giám sát phản biện xã hội một cách chuyên nghiệp – chú ý khả năng dự báo với các phương án khác nhau để cơ quan tổ chức được phản biện dễ lựa chọn.

- Chiến lược đổi mới phương thức hoạt động & xây dựng tổ chức, bộ máy của Liên Hiệp Hội theo hướng phát triển của CMCN 4.0 tinh gọn, hiệu quả. Tạo đồng thuận và tranh luận khoa học dân chủ - tôn trọng sự khác biệt.

  • Nguyễn Vi Khải
    Nguyên Viện trưởng Viện Chủ nghĩa Xã hội Khoa học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Chú thích

[1] C.Mác Ăng ghen Toàn tập Nxb Chính trị quốc gia HN. 1995 Tập I trang 315.

[2] Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia .

[3] Điều lệ của LHH Chương I Điều 1 2

[4] Ý kiến đánh giá của LHH trong chương tình làm việc với đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí Thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương ngày 6/06/2018.

[5] PGS.TSKH. Lương Đình Hải - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Con người, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam “Phát huy vai trò của trí thức, bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao...” - 15/05/2018

[6]  Không chỉ là quan điểm chủ trương của Đảng và Nhà nước mà còn là một khâu đột phá trong hành động.

[7] Đề án “Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài” nhằm nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành về Nghị quyết số 132/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26- NQ/TW của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII...Thời gian thực hiện Đề án từ năm 2020- 2025, trong đó chia thành 2 giai đoạn. Cụ thể, từ năm 2020-2021 sẽ tập trung tuyên truyền, phổ biến về Đề án; rà soát, hoàn thiện các chính sách về thu hút, trọng dụng nhân tài; sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Giai đoạn từ năm 2022-2025 tổ chức triển khai các chính sách cụ thể; tổng kết, đánh giá thực hiện Đề án.

[8] http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/tong-quan-ve-doi-ngu-tri-thuc-viet-nam-hien-nay 

 http://tamnhin.net.vn/phat-huy-vai-tro-cua-tri-thuc-khcn-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-trong-thoi-dai-cong-nghiep-40- 8163.html .... - “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời đại hiện nay” Tạp chí Tổ chức Nhà nước - 29/08/2018

Thứ Hai, 25/11/2019 13:45

Đọc nhiều nhất
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện