Nâng cao uy tín của LHH Việt Nam

(Diễn đàn trí thức) - Liên hiệp Hội Việt Nam được Đảng và Nhà nước xác định là tổ chức chính trị-xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ nước nhà. 

Tại Diễn đàn khoa học "Vai trò, trách nhiệm của Liên hiệp các Hội Khoa học - Kỹ thuật Việt Nam trong sự phát triển đất nước" được Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức sáng 8/11, TS. Lê Công Lương - Phó Tổng Thư ký kiêm Chánh Văn phòng Liên hiệp Hội Việt Nam đã có bài tham luận. Báo Đất Việt xin đăng tải toàn văn tham luận này:

Nang cao uy tín của LHH Viẹt Nam
TS. Lê Công Lương - Phó Tổng Thư ký kiêm Chánh Văn phòng Liên hiệp Hội Việt Nam

LHH Việt Nam tiếp tục công tác tập hợp trí thức

Liên hiệp Hội Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam có hệ thống tổ chức từ trung ương đến các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng.

Sau hơn 36 năm xây dựng và trưởng thành, Liên hiệp Hội Việt Nam có 149 hội thành viên (gồm 63 Liên hiệp hội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và 87 Hội ngành toàn quốc); gần 500 tổ chức KH-CN trực thuộc Đoàn Chủ tịch; 01 nhà xuất bản; 112 cơ quan báo chí; 01 quỹ hỗ trợ sáng tạo kỹ thuật; tập hợp hơn 3,7 triệu hội viên, trong đó có khoảng 2,2 triệu hội viên trí thức. Trong toàn hệ thống, cùng với Đảng đoàn Liên hiệp Hội Việt Nam, còn có 50 hội thành viên đã thành lập đảng đoàn (49 Liên hiệp hội địa phương và 01 Hội ngành toàn quốc). Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam gồm 55 chi bộ trực thuộc với hơn 600 đảng viên. Công đoàn Liên hiệp Hội Việt Nam trực thuộc Công đoàn Viên chức Việt Nam có 15 tổ chức công đoàn trực thuộc với trên 1.000 công đoàn viên. Đoàn Thanh niên Liên hiệp Hội Việt Nam trực thuộc Đoàn Thanh niên Khối các cơ quan Trung ương có 11 chi đoàn trực thuộc.

Sự ra đời của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam là khách quan trong tiến trình phát triển đất nước

Thế giới tồn tại và phát triển chính là nhờ ở sự sáng tạo, Cụ thể hơn là nhờ những phát mính, sáng chế khoa học kỹ thuật và sự chuyển tải các kết quả đó qua các trời kỳ lịch sử. Trong nửa đầu thế kỷ XX, khoa học, kỹ thuật trên thế giới có những bước phát triển vượt bậc, tạo nên hàng loạt thay đổi quan trọng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Xuất phát từ chủ nghĩa Mác - Lênin và từ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú của mình, Hồ Chí Minh cảm nhận một cách sâu sắc ý nghĩa, vai trò to lớn của khoa học, kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; Người coi "Thời đại của chúng ta bây giờ là thời đại vệ tinh nhân tạo, nghĩa là thời đại của khoa học phát triển mạnh, thời đại xã hội chủ nghĩa..."". Chính vì thế, Người khẳng định một cách dứt khoát rằng, cách mạng xã hội chủ nghĩa phải gắn liền với sự phát triển của khoa học và kỹ thuật, với sự phát triển văn hóa của nhân dân; đồng thời tin tưởng rằng, chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học chắc chắn sẽ mang lại cuộc sống hạnh phúc, ấm no cho loài người nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng.

Ngày 18/5/1963, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Hội Phổ biến khoa học, kỹ thuật Việt Nam (Tiền thân của Liên hiệp Hội Việt Nam ngày nay). Bác đã nói: "Bác thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ thân ái chào mừng Đại hội. ... Khoa học là tổng kết những kinh nghiệm đấu tranh giữa giai cấp bị bóc lột và giai cấp bóc lột và đấu tranh giữa con người và thiên nhiên, ở đây chỉ nói riêng về khoa học tự nhiên và kỹ thuật. Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi. Như vậy, nhiệm vụ của khoa học, kỹ thuật là cực kỳ quan trọng, cho nên mọi ngành, mọi người đều phải tham gia công tác khoa học, kỹ thuật, để nâng cao năng suất lao động, sản xuất ra nhiều của cải vật chất, để xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi. Mấy năm nay, Ban Vận động Trung ương Hội Phổ biến khoa học và kỹ thuật hoạt động góp phần đẩy mạnh sản xuất, do đó đã được quần chúng tin cậy. Như thế là rất tốt. Chúng ta đều biết rằng: Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, khoa học là tài sản chung của toàn dân chứ không phải tài sản riêng của một nhóm người nào. Bởi vậy các cô, các chú phải ra sức đem hiểu biết khoa học, kỹ thuật của mình truyền bá rộng rãi trong nhân dân lao động, để nhân dân đẩy mạnh thi đua sản xuất nhiều, nhanh, tốt, rẻ. Có như vậy nước mới giàu, dân mới mạnh và đời sống của nhân dân mới được cải thiện về mọi mặt. Đó là nhiệm vụ vẻ vang của các cô, các chú.”

Từ lời dạy của Người, trên cơ sở kết quả hoạt động của Uỷ ban liên lạc lâm thời các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, ngày 26/3/1983, tại Thủ đô Hà Nội, đại biểu của 14 hội khoa học và kỹ thuật ngành toàn quốc và Hội liên hiệp khoa học và kỹ thuật Hà Nội đã tổ chức Đại hội thành lập Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam do Giáo sự, Viện sĩ, Thiếu tướng, Anh hùng lao động Trần Đại Nghĩa làm Chủ tịch.

Đại hội lần thứ nhất Liên hiệp hội Việt Nam thành công đã đáp ứng được nguyện vọng tha thiết của các hội khoa học và kỹ thuật, của các nhà khoa học và công nghệ Việt Nam, mong muốn có một tổ chức chung để tập hợp, đoàn kết đôi ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong cả nước và ở nước ngoài, điều hoà, phối hợp các hoạt động phong phú và đa dạng của các hội thành viên, để có được tiếng nói chung, thống nhất, đề đạt ý kiến chung với Đảng và Nhà nước, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Đối với các nước trên thế giới tuy mô hình có khác nhau nhưng hầu hết đều có các tổ chức hoạt động như Liên hiệp Hội Việt Nam.

Qua chuyến đi công tác tại Nhật Bản năm 2017, chúng tôi đã tìm hiểu Hội đồng Khoa học Nhật Bản (SCJ) là cơ quan đại diện cho cộng đồng khoa học Nhật Bản trên tất cả các lĩnh vực khoa học, bao gồm khoa học nhân văn, khoa học xã hội, khoa học đời sống, khoa học tự nhiên và kỹ thuật. Hội đồng này có cơ cấu chức năng và nhiệm vụ gần giống như Liên hiệp Hội Việt Nam. Được thành lập vào tháng 1 năm 1949, SCJ là một “tổ chức đặc thù” thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, hoạt động độc lập với chính phủ nhằm tăng cường và thúc đẩy lĩnh vực khoa học, đảm bảo khoa học được vận dụng và thấm nhuần trong hệ thống quản lý, các ngành công nghiệp và đời sống nhân dân. SCJ đại diện cho giới khoa học Nhật Bản ở cả trong và ngoài nước với niềm tin vững chắc rằng khoa học là nền tảng của một quốc gia văn minh. SCJ có hai chức năng chính sau: Xem xét các vấn đề quan trọng liên quan đến khoa học và hỗ trợ giải quyết các vấn đề đó; Điều phối các nghiên cứu khoa học nhằm đạt được hiệu quả cao hơn. Tập trung vào bốn hoạt động dưới đây, SCJ đặc biệt tích cực hỗ trợ cải tiến và phát triển khoa học ở Nhật Bản và tăng cường mối quan hệ hợp tác không thể tách rời với Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ-cái nôi của các chính sách khoa học và công nghệ của Nhật Bản:

- Đưa ra các khuyến nghị chính sách cho chính phủ và công chúng

- Thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế

- Phổ biến kiến thức khoa học

- Thành lập các mạng lưới giữa các nhà khoa học

Hội đồng Khoa học Nhật Bản, với tư cách đại diện cho cộng đồng khoa học Nhật Bản, là một tổ chức có các chức năng cơ bản là giải quyết các vấn đề khoa học quan trọng và góp phần cho sự ghi nhận các vấn đề đó và đấu tranh vì sự tiếp tục phát triển của khoa học thông qua việc thúc đẩy mở rộng và hợp tác trong nghiên cứu khoa học. Hội đồng Khoa học Nhật Bản sẽ hoạt động theo cách thức phù hợp với vị trí và sứ mệnh của mình. Hội đồng Khoa học Nhật Bản có 210 Thành viên Hội đồng và khoảng 2,000 Thành viên thông thường được lựa chọn đại diện cho xấp xỉ 840,000 nhà khoa học trên toàn quốc. SCJ thực hiện các hoạt động dựa trên quan điểm phổ cập, toàn diện và đa mặt; tận dụng ưu thế là cái nôi tập hợp các nhà khoa học ở hầu khắp các lĩnh vực, từ khoa học nhân văn, khoa học xã hội, khoa học đời sống, khoa học tự nhiên và kỹ thuật.

Hiệp Hội Khoa học và Kỹ thuật Trung Quốc (CAST) có 198 Hội ngành toàn quốc, mỗi tỉnh có một LHH địa phương. Cơ quan trung ương CAST có 160 người, 14 ban/ phòng Khi cao nhất có đến 10.000 người làm việc trong tổ chức CAST (Hiện nay giảm xuống còn 5000). Hàng năm, kinh phí bình quân, chính phủ Trung Quốc cấp cho CAST 150 triệu USD. Hiệp Hội Khoa học và Kỹ thuật Trung Quốc có 1 văn phòng thực hiện nhiệm vụ phổ biến kiến thức liên hệ với 18 bộ, Quốc vụ viện. CAST phổ cập khoa học cho dân chúng nhằm đáp ứng nhu cầu được biết của người dân, cung cấp kênh thông tin cho người dân tìm hiểu, và trang bị cho họ những kỹ năng cần thiết để hiểu thông tin và tính chất hai mặt của công nghệ như vấn đề ô nhiễm từ các nhà máy hóa chất hiện đại. Hiệp hội Khoa học và Kỹ thuật cũng tích cực tham gia vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo. CAST được giao nhiệm vụ biên soạn sách giao khoa. Trong hơn 20 năm qua, CAST đã tiến hành các cuộc điều tra quốc gia về xóa mù khoa học cho người dân đồng thời sử dụng các dữ liệu để so sánh Trung Quốc với các nước khác. CAST là cơ quan được giao nhiệm vụ tham gia xây dựng pháp luật. CAST có nhiều sáng kiến cho quốc vụ viện để phổ biến, xây dựng pháp luật, CAST đã chủ trì xây dựng Luật Khoa học, Luật phổ biến kiến thức trình Quốc Vụ Viện thông qua. CAST là tổ chức tiên phong trong việc tạo mạng lưới dịch vụ nông nghiệp công nghệ cao. Hiệp Hội Khoa học và Kỹ thuât Trung Quốc, cho biết số lượng tổ chức cơ sở để thúc đẩy công nghệ nông nghiệp của Trung Quốc đã đạt đến 133.000 với 11,3 triệu thành viên. Nằm trong trụ sở CAST, có một tòa nhà gọi là Cung Trí thức. Đây là nơi tổ chức các hoạt động nghiên cứu, xây dựng kế hoạch, đối sách, hội thảo, là ngôi nhà của trí thức khoa học. Tại Cung Trí thức có nhiều viện nghiên cứu trực thuộc CAST với hơn 2000 người làm việc, trong đó 202 người trả lương, số còn lại do các nguồn thu từ dịch vụ thu trả.

Từ thực tiễn và lý luận cũng như kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc thành lập và phát triển các hội khoa học và công nghệ là một tất yếu lịch sử, một xu thế khách quan, phù hợp với tầm quan trọng của việc phổ biến các kiến thức khoa học kỹ thuật trong đời sống xã hội cũng như xu hướng chung của các nước trên thế giới.

Vai trò, vị trí chính trị-xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam ngày càng quan trọng trong hệ thống chính trị của nước ta

Chặng đường hơn 36 năm hoạt động và phát triển cũng là quá trình định hình tính chất, mục đích, chức năng và vai trò nhiệm vụ của Liên hiệp Hội Việt Nam. Điều lệ được Đại hội lần thứ I thông qua đã nêu rõ: “Liên hiệp Hội Việt Nam là tổ chức quần chúng tự nguyện của tất cả các Hội Khoa học và Kỹ thuật của người Việt Nam ở trong và ngoài nước”, “Mục đích của Liên hiệp Hội là tập hợp và đoàn kết tất cả các Hội Khoa học và Kỹ thuật của người Việt Nam để giúp đỡ nhau tiến hành các hoạt động khoa học và kỹ thuật theo đường lối quần chúng nhằm phát huy tốt hơn nữa tiềm lực khoa học và kỹ thuật của đất nước, góp phần phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng Tư năm 2010) xác định mục tiêu phát triển của Liên hiệp Hội Việt Nam là “phấn đấu xây dựng Liên hiệp Hội Việt Nam trở thành tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh từ trung ương đến địa phương, giữ vững vai trò nòng cốt trong việc tập hợp, đoàn kết và phát huy sức sáng tạo của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ; góp phần quan trọng đưa khoa học và công nghệ trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội, để đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp, phát triển bền vững”. Liên hiệp Hội Việt Nam có chức năng tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ ở trong nước, trí thức khoa học và công nghệ người Việt Nam ở nước ngoài; điều hoà, phối hợp hoạt động của các hội thành viên; làm đầu mối giữa các hội thành viên với các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức khác nhằm giải quyết những vấn đề chung trong hoạt động của Liên hiệp Hội Việt Nam; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các hội viên, hội thành viên, của trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam. Với sự phát triển không ngừng về tổ chức, Liên hiệp Hội Việt Nam ngày càng trở thành một mạng lưới rộng khắp trong toàn quốc với những mối liên hệ theo chiều dọc giữa liên hiệp hội ở các cấp và theo chiều ngang giữa các hội thành viên ở từng cấp.

Trong quá trình xây dựng và phát triển, Liên hiệp Hội Việt Nam luôn nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện của Đảng và Nhà nước. Từ một tổ chức xã hội - nghề nghiệp, sau 10 năm hoạt động với nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển đất nước, Liên hiệp Hội Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước xác định là tổ chức chính trị - xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ nước nhà. Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều Chỉ thị, Kết luận quan trọng nêu rõ vị trí, vai trò của Liên hiệp Hội Việt Nam trong công tác vận động trí thức và chỉ đạo các cơ quan chức năng tạo điều kiện để Liên hiệp Hội Việt Nam hoạt động. Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 16/4/2010 của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định: “ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam từ Trung ương đến tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thể hiện được tính chất chính trị - xã hội, đại diện cho lực lượng trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vai trò, vị trí và uy tín trong xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam ngày càng được nâng cao”. Bộ Chính trị nêu rõ quan điểm: “Phát triển Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ”.

Là tổ chức chính trị - xã hội, Liên hiệp Hội Việt Nam đã tích cực tư vấn và tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các Ban của Đảng các vấn đề liên quan đến công tác vận động trí thức. Là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp Hội Việt Nam luôn luôn nhiệt tình hưởng ứng các hoạt động do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động. Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ động tham gia tư vấn, phản biện, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản luật liên quan; phối hợp, hỗ trợ và cung cấp thông tin cho các đại biểu Quốc hội là đại diện cho trí thức khoa học và công nghệ nhằm tăng cường chất lượng hoạt động trong các kỳ họp Quốc hội. Liên hiệp Hội Việt Nam tích cực tham gia hiệp thương và giới thiệu trí thức khoa học và công nghệ tiêu biểu trong toàn hệ thống ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong các nhiệm kỳ; đã đẩy mạnh các hoạt động hợp tác và phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ Nhà nước giao và theo chức năng, nhiệm vụ của Liên hiệp Hội Việt Nam; đã tăng cường mối quan hệ với lãnh đạo tỉnh, thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhằm thúc đẩy phát triển tổ chức và hoạt động của Liên hiệp Hội ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Các Hội ngành toàn quốc đã chủ động triển khai nhiều chương trình hợp tác với các Bộ, ngành, địa phương trong các lĩnh vực liên quan.

Là một tổ chức tập hợp các hội khoa học, Liên hiệp Hội Việt Nam đã thực sự là tổ chức nòng cốt trong việc huy động đội ngũ trí thức tham gia tích cực giải quyết các nhiệm vụ quan trọng trên nhiều lĩnh vực. Trong công tác tư vấn, phản biện và giám định xã hội, Liên hiệp Hội Việt Nam đã tập hợp nhiều trí thức tiêu biểu, các nhà khoa học tham gia tư vấn, phản biện các đề án, chính sách lớn có tính chất phức tạp, liên ngành, đa ngành của đất nước. Hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp Hội Việt Nam là một kênh thông tin quan trọng, khách quan giúp cho các cơ quan chức năng có thêm luận cứ khoa học để quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, vì vậy hoạt động này được các cơ quan chức năng đánh giá cao và dư luận xã hội đồng tình, ủng hộ, tin tưởng.

Thông qua hệ thống báo, tạp chí, bản tin, trang tin điện tử và nhà xuất bản của mình, Liên hiệp Hội Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến kiến thức trong nhân dân, góp phần đưa tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, đời sống và nâng cao dân trí. Các hội thành viên, các tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc đã đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền và phổ biến kiến thức thông qua xuất bản sách, tài liệu, tổ chức các hội thảo, hội nghị, triển lãm.

Các tổ chức thành viên, tập thể, cá nhân các nhà khoa học trong hệ thống Liên hiệp Hội Việt Nam tích cực tham gia các hoạt động xã hội hoá khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, bảo vệ môi trường, y tế, phát triển cộng đồng và xoá đói giảm nghèo, tạo được uy tín nhất định đối với các cơ quan quản lý Nhà nước từ trung ương đến địa phương và của xã hội, đặc biệt là những người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Trong hoạt động hợp tác quốc tế, Liên hiệp Hội Việt Nam đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác và là đối tác tin cậy đối với nhiều tổ chức khoa học và công nghệ và các nhà tài trợ nước ngoài. Nhiều Hội ngành toàn quốc đã tạo dựng và phát triển tốt mối quan hệ hợp tác với các tổ chức nước ngoài trên những lĩnh vực mà hai bên cùng quan tâm. Công tác vận động trí thức Việt kiều được chú trọng nhiều hơn trong thời gian gần đây. Liên hiệp Hội Việt Nam đã đẩy mạnh hoạt động tôn vinh trí thức, tổ chức tốt việc gặp mặt trí thức tiêu biểu có nhiều đóng góp cho đất nước ở trung ương cũng như ở các địa phương. Đã tổ chức ngày càng tốt hơn các giải thưởng, hội thi; đổi mới, nâng cao chất lượng Giải thưởng Sáng tạo Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hội thi Sáng tạo kỹ thuật toàn quốc và các giải thưởng, cuộc thi khác do Liên hiệp Hội Việt Nam và các hội thành viên chủ trì.

Với những kết quả hoạt động nêu trên, Liên hiệp Hội Việt Nam đã khẳng định được vai trò, vị trí của mình trong hệ thống chính trị, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

  • TS. Lê Công Lương
    Phó Tổng Thư ký kiêm Chánh Văn phòng Liên hiệp Hội Việt Nam

Thứ Bảy, 30/11/2019 10:03

Đọc nhiều nhất
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện