Nghị quyết phát triển ĐBSCL: Những điều cần bổ sung

(Diễn đàn trí thức) - Nghị quyết số 120/NQ-CP có nhiều điểm nổi bật nhưng cũng còn những vấn đề chưa được đề cập.

Có lẽ vì vậy mà nước thải sinh hoạt của cụm đông dân cư, thành phố; nước thải chuồng trại, ao nuôi trồng thủy sản; nước thải và chất thải của các nhà máy, khu công nghiệp, đặc biệt là nguồn nước tiêu thoát từ các cánh đồng trồng lúa thâm canh mà trong đó có cả nước phèn, thuốc sâu, phân bón…đều đổ vào hệ thống sông rạch, kênh mương chằn chịt trên toàn đồng bằng.

Chính những nguồn ô nhiễm nầy và qui trình vận hành hệ thống cống đập chỉ nhằm phục vụ cho mục tiêu sản xuất lúa trong thời gian vừa qua đã làm cho chất lượng nguồn nước mặt ở ĐBSCL suy giảm nghiêm trọng, khiến cho người dân không dám sử dụng nguồn nước nầy cho sinh hoạt hàng ngày, không dám sử dụng để nuôi trồng thủy sản, nên họ buộc phải khai thác nguồn nước ngầm cho các hoạt động nầy.

Việc khai thác nguồn nước ngầm quá mức được xem như là nguyên nhân làm cho ĐBSCL sụt lún nhanh hơn mười lần tốc độ dâng cao của mực nước biển hiện nay.

Mặc dù các nhà máy và các cụm công nghiệp hiện nay tại ĐBSCL chưa phải là nguồn chính gây ra ô nhiễm nguồn nước mặt, nhưng lại có tiềm năng gây ô nhiễm rất cao, bởi vì ai cũng biết là theo thời gian các máy móc sẽ cũ đi và lượng chất thải sẽ sản sinh ra nhiều hơn và chúng sẽ tích tụ dần dần vào môi trường, đặc biệt là không ai dám bảo đảm là các nhà máy hay khu công nghiệp nầy sẽ không bao giờ gặp sự cố? Và nếu có sự cố xẩy ra thì những chất ô nhiễm nầy cũng sẽ đổ vào nguồn nước mặt vì các nhà máy và khu công nghiệp nầy đều đóng dọc theo bờ sông, cửa sông ở ĐBSCL.

Vì vậy, nếu chỉ loay hoay với việc qui hoạch, đầu tư hạ tầng và phát triển chuổi sản xuất của các sản phẩm thủy sản, cây ăn trái và lúa gạo, thì e rằng chúng ta khó mà chứng minh một cách thuyết phục với người tiêu dùng trong nước là hàng hóa của chúng ta “sạch và an toàn”, điều nầy lại càng khó hơn đối với các quốc gia khác trên thế giới. Như vậy mục tiêu phát triển nền “nông nghiệp thị trường” (agri-business) vẫn còn nguyên thách thức!

3. Kịch bản cho dịch bệnh: Có lẽ do cụm từ “Biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng” nên khi nói đến biến đổi khí hậu (BĐKH) thì người ta liên tưởng đến nước. Vì vậy mà trong suốt thời gian vừa qua, các giải pháp ứng phó với BĐKH cũng xoay quanh vấn đề nước nhiều nước ít, nên những biện pháp như xây đê đập, kè cống cũng đã được bàn bạc và triển khai thực hiện khá nhiều.

Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) cũng đã xây dựng những kịch bản liên quan đến nước, như kịch bản mực nước biển dâng; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) cũng xây dựng những kịch bản thiên tai như mặn xâm nhập, lũ lụt, hạn hán cho ĐBSCL.

Tuy nhiên, bản chất của BĐKH là sự thay đổi thất thường của các yếu tố thời tiết như nhiệt độ, nắng, mưa, gió… mang tính qui luật, tức là nó có khả năng xảy ra thường xuyên hơn. Về mặt môi trường thì BĐKH dễ gây ra dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi và kể cả con người, dịch tả lợn Châu Phi hiện nay là một ví dụ.

Bản chất của những dịch bệnh nầy là xuất hiện bất kỳ, rồi lây lan nhanh dựa theo môi trường và hoạt động kinh tế - xã hội, khoa học chưa có giải pháp hiệu quả để khống chế và các ban ngành chức năng chưa có sẵn kinh nghiệm quản lý chúng. Dịch bệnh cũng như nguồn ô nhiễm, chúng không nhất thiết phải xảy ra tại ĐBSCL thì mới đe dọa đến ba trụ cột sản xuất chủ lực của chúng ta là thủy sản, cây ăn trái và lúa gạo.

Ví như một nhà máy hóa chất độc hại bên Campuchia gặp sự cố và chất độc tràn xuống sông Mê Công thì chúng ta phải ứng phó ra sao? Một dịch bệnh lạ xuất hiện trên cá da trơn thì sẽ ảnh hưởng thế nào đến ngành sản xuất cá basa của chúng ta? Dĩ nhiên là không ai muốn những điều tồi tệ đó xảy ra, nhưng khi chúng ta bàn đến phát triển bền vững thì phải nghĩ đến chuyện không để nó xảy ra, nếu lỡ xảy ra thì chúng ta có sẵn biện pháp đối phó để thiệt hại là mức thấp nhất, và khi sau đó là tốc độ phục hồi nhanh nhất.

Tóm lại, những yếu tố cực đoan của thời tiết thì con người chúng ta chỉ có thể tham gia “phòng” là chính, vì vậy cần phải có những kịch bản với độ tin cậy cao, để chúng ta không bị động hoàn toàn khi chúng xảy ra. Nhưng ngược lại, nguy cơ làm ô nhiễm nguồn nước mặt thì chúng ta có thể chủ động kiểm soát một cách tích cực hơn, như: Giảm lượng chất hóa học, chất kháng sinh trên ao chuồng, đồng ruộng, kiểm soát nghiêm ngặt nguồn chất thải của khu dân cư, thành phố, nhà máy, khu công nghiệp, đặc biệt là mạnh dạn nói không với việc du nhập các công nghệ ô nhiễm hay có nguy cơ làm ô nhiễm vào ĐBSCL. Và trên hết tất cả là phải xây dựng tiêu chí “chất lượng” cho “sản phẩm con người” của ĐBSCL.

Việc này không chỉ để cho ĐBSCL phát triển bền vững, thích nghi với những tiêu cực của BĐKH, mà là để cho ĐBSCL có thể hội nhập toàn cầu mà không bị thiệt thòi.

  • Tiến sĩ Dương Văn Ni - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và thực nghiệm đa dạng sinh học Hòa An (Trung tâm Hòa An)

Thứ Hai, 24/06/2019 07:19

Van Kien Dai Hoi
Đọc nhiều nhất
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện