Nguồn nước về ĐBSCL, những diễn biến gần đây

(Diễn đàn trí thức) - sự thu hẹp và lệch ngoặc về phía Đông Nam của cửa sông Bassac đang làm suy giảm chức năng cung cấp nguồn nước và trầm tích cho vùng hạ

NGUỒN NƯỚC VỀ ĐBSCL, NHỮNG DIỄN BIẾN GẦN ĐÂY

                                                                   Nguyễn Ngọc Trân [1]

Tóm tắt. Từ nửa thế kỷ trở lại đây, tác động của con người lên lưu vực sông Mekong ngày càng nhiều và quy mô, ảnh hưởng sâu sắc đến chế độ thủy văn tại châu thổ. Các số liệu thực đo về mực nước và lưu lượng tại hai trạm thủy văn Tân Châu và Châu Đốc là những thông tin cơ bản để hiểu biết thực tế về nguồn nước đến ĐBSCL. Từ các số liệu này, bài viết nêu lên một số nhận xét về sự phân bổ nguồn nước này, đặc biệt về chức năng chuyển nước của sông Bassac.

Tầm quan trọng của lưu lượng tại Tân Châu và Châu Đốc đối với ĐBSCL

Tầm quan trọng căn bản của nguồn nước một con sông chảy vào châu thổ mang tên nó là vai trò mạo sinh (morphogenesis) đối với vùng đất, trên đó cùng tồn tại các quần thể sinh vật mà con người là một thành tố.

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nằm ở tận cùng của lưu vực sông Mekong tiếp giáp với Biển Đông, là phần của châu thổ thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái, sản xuất và đời sống của người dân ở vùng đất này phụ thuộc vào nguồn nước của lưu vực sông Mekong chảy về đồng bằng qua Tân Châu (trên sông Mekong) và Châu Đốc (trên sông Bassac).

Từ bao đời nay, người dân nhìn “con nước” (họ vẫn gọi như vậy) để nhìn cùng một lúc mực nước cao hay thấp, dòng chảy siết hay chậm, màu nước trong (ít) hay đục (nhiều phù sa), đến Tân Châu và Châu Đốc để phán đoán theo kinh nghiệm về mùa nước nổi, về khô hạn, xâm nhập mặn, và về năng suất mùa vụ sắp tới.

Vì tầm quan trọng như vậy của nguồn nước đến, Sogreah/Unesco trong các năm 1963-1966, dựa trên các số liệu đo đạc, đã xây dựng lần đầu tiên một mô hình toán mô phỏng dòng chảy trên châu thổ sông Mekong vào mùa lũ [2].

Để tính toán xâm nhập mặn vào mùa kiệt qua các cửa sông Tiền và sông Hậu, năm 1974 “Đoàn Hà Lan” đã đưa ra kết quả phân bổ lưu lượng giữa Tân Châu và Châu đốc (90% và 10%) ứng với lưu lượng tại Phnom Penh là 2385 m3/s [3] (Hình 1). Cũng theo tài liệu này dòng chảy trên sông Tiền và trên sông Hậu trở nên cân bằng hơn sau khi một lượng nước từ sông Tiền đổ vào sông Hậu qua sông Vàm Nao.

Từ đó đến nay nhiều mô hình đã được sử dụng để mô phỏng dòng chảy mùa khô trên châu thổ sông Mekong với biên đầu vào tại Kratie, từ đó có được mực nước và lưu lượng tính toán tại Tân Châu và Châu Đốc [4], [5], [6]. Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam (SIWRP) đã tiến hành các đợt đo đạc lưu lượng ngắn hạn tại các cửa sông và tại Tân Châu, Châu Đốc. Viện đưa ra hai tỷ lệ phân bổ lưu lượng là (83,8%, 16,2% với tổng Q 2626 m3/s) và (85,9%, 14,1% với tổng Q 2387 m3/s) [7].Gần đây, trong một nghiên cứu của trường Đại học Utrecht hợp tác với SIWRP đã dùng mô hình số để đánh giá sự phân chia dòng chảy vào mùa khô tại vùng cửa sông [8].

Nguon nuoc ve DBSCL, nhung dien bien gan day
Hình 1. Phân bổ lưu lượng của Đoàn Hà Lan năm 1974

 Lưu lượng đo đạc tại Tân Châu và Châu Đốc. Tỷ lệ và phân bổ.

Từ nửa thế kỷ trở lại đây, tác động của con người lên lưu vực sông Mekong ngày càng nhiều và quy mô, ảnh hưởng sâu sắc đến chế độ thủy văn tại châu thổ.

Tại ĐBSCL nhiều kênh rạch đã được đào, nhiều tuyến đê đã được đắp, từ vượt lũ tháng 8 để thu hoạch xong vụ lúa Hè Thu, đến vượt lũ tuyệt đối nhằm bảo đảm làm thêm vụ lúa thứ ba trong năm, vụ Thu Đông.

Nhiều công trình đã tác động trực tiếp đến dòng chảy về Tân Châu và Châu Đốc. Có thể kể Kênh Xáng Tân An, kè Tân Châu và đối diện là Kè Thường Thới Tiền; mở rộng Kênh Vĩnh Tế và các kênh thoát lũ ra Biển Tây, đường N1 xây dựng vượt lũ dọc bờ Nam Kênh Vĩnh Tế; hệ thống đê bao ở huyện An Phú, …

Trong bối cảnh như vậy, việc khai thác các số liệu thực đo về mực nước và lưu lượng tại hai trạm thủy văn Tân Châu và Châu Đốc là cần thiết cho sự hiểu biết thực tế về môi trường và cho quy hoạch khai thác ĐBSCL theo tinh thần của Nghị quyết 120 của Chính phủ.

Số liệu gốc là lưu lượng giờ thực đo tại trạm Tân Châu (tọa độ 10o48’, 105o13’) và tại trạm Châu Đốc (tọa độ 10o42’, 105o06’) trong 10 năm sáu tháng từ 0giờ ngày 01/01/2009 đến 23giờ ngày 30/06/2019, và lưu lượng bình quân ngày từ 01/01/1996 đến 31/12/2008.

Từ các số liệu này diễn biến của lưu lượng bình quân năm sông Mekong qua trạm Tân Châu và của lưu lượng bình quân năm sông Bassac qua trạm Châu Đốc được tính toán.

ĐBSCL có hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô. Theo xác suất trên chuỗi số liệu nhiều năm và từ hiểu biết của người dân, mùa mưa bắt đầu từ 01/05 đến 30/10 hàng năm và mùa khô, từ 01/11 đến 30/04 năm sau.

Diễn biến của lưu lượng dòng chảy trong mùa mưa và trong mùa khô, mối tương quan giữa lưu lượng tại hai trạm đã được tính toán cùng với phân bổ nguồn nước đến đồng bằng. Bài viết xem xét hai chỉ số: R1 là tỷ lệ lưu lượng tại trạm Châu Đốc (Qcđ), trên lưu lượng tại trạm Tân Châu (Qtc); và R2 là phân bổ Qcd trên tổng (Qtc + Qcd).

Kết quả tính toán trong ba trường hợp cả năm / mùa mưa / mùa khô được thể hiện bằng đồ thị trong các Hình 2, 3, 4. Bên trái mỗi hình là đồ thị Qtc và Qcđ lần lượt trong ba trường hợp, với đường xu thế tuyến tính. Bên phải là đồ thị của tỷ lệ R1 và phân bổ R2 (năm / mùa mưa / mùa khô) và các đường xu thế tuyến tính tương ứng.

Nguon nuoc ve DBSCL, nhung dien bien gan day
Hình 2 Diễn biến lưu lượng bình quân ngày_năm trong năm tại Tân Châu và Châu Đốc
Nguon nuoc ve DBSCL, nhung dien bien gan day
Hình 3 Diễn biến lưu lượng bình quân ngày_mùa mưa tại Tân Châu và Châu Đốc
Nguon nuoc ve DBSCL, nhung dien bien gan day
Hình 4 Diễn biến lưu lượng bình quân ngày_mùa khô tại Tân Châu và Châu Đốc

Nhận xét và thảo luận

Trước tiên, hai chuổi số liệu Q đo đạc gộp lại được 23 năm lưu lượng bình quân ngày. Nếu các chuổi số liệu nhiều năm hơn về quá khứ, các nhận xét sau đây sẽ có cơ sở tốt hơn. Do vậy các kết quả chỉ mới là những nhận định còn cần được theo dõi và kiểm chứng tiếp qua số liệu đo đạc những năm sắp tới.

Trong 23 năm này, có một số năm lũ lớn [9] và một số năm hạn hán gay gắt, kéo dài, thậm chí được gọi là “lịch sử”.

Các nhận định còn phụ thuộc vào sự chính xác của các số liệu đo đạc, vào phương pháp và quy trình đo đạc được ngành Khí tượng Thủy văn quy định.

(1) Tổng lượng nước từ thượng nguồn chảy vào ĐBSCL

Trong Hình 5 là đồ thị tổng lượng nước bình quân ngày chảy vào ĐBSCL cả năm / mùa mưa / mùa khô trong 23 năm qua.  

Nguon nuoc ve DBSCL, nhung dien bien gan day
Hình 5.

Cả ba tổng lượng nước có xu thế giảm, nhưng với hệ số R bình phương rất thấp.

Lũ các năm 2000, 2001, 2002, 2011 thể hiện rõ qua đồ thị. Năm 2017, 2018, tổng lượng nước năm và mùa mưa không kém các năm lũ lớn. Đáng chú ý là tổng lượng nước mùa khô năm lũ 2000 và các năm 2017 và 2018 không tăng mà còn giảm.

Các năm hạn hán 1998, 2003 và 2015 cũng được thể hiện rõ qua các đồ thị. Đáng chú ý là năm 2010 tổng lượng nước cả năm và mùa mưa tụt giảm mạnh trong khi đó tổng lượng nước mùa khô thì không.

(2) Trong 23 năm 1996 – 2018, tỷ lệ phân bổ R2 (mùa khô) biến động trong khoảng (14,88% - 22,70%), khác nhiều so với phân bổ 10% mà Đoàn Hà Lan đưa ra năm 1974. Sự khác biệt có thể hiểu được sau bao nhiêu công trình được xây dựng nhằm khai thác nguồn nước trong 45 năm qua từ thượng nguồn trước khi về đến hai trạm thủy văn Tân Châu và Châu Đốc.

(3) Về tỷ lệ và phân bổ lưu lượng.

Các đồ thị tỷ lệ và phân bổ lưu lượng (Hình 2, 3, 4, bên phải) cho thấy hai chỉ số R1 và R2 trong cả ba trường hợp, cả năm / mùa mưa / mùa khô giảm trong 23 năm qua. Xu thế tuyến tính có hệ số R bình phương >0,56 (cả năm), >0,46 (mùa mưa), >0,54 (mùa khô).

Nếu xem xét diễn biến trong 12 năm 2007–2018, xu thế này vào mùa khô càng được khẳng định, với hệ số R bình phương > 0,71. Hình 6.

Nguon nuoc ve DBSCL, nhung dien bien gan day
Hình 6.

(4) Bảng 1 cho thấy tỷ lệ R1(mùa mưa) cao hơn hẵn R1(năm) và R1(mùa khô).

Nguon nuoc ve DBSCL, nhung dien bien gan day
Bảng 1. Tỷ lệ và phân bổ lưu lượng trong năm / mùa mưa / mùa khô

Phải chăng vì trong mùa mưa, lượng nước sông Bassac từ Phnom Penh về Châu Đốc nhiều hơn? Lý giải này mâu thuẩn với xu thế tỷ lệ R1 giữa lưu lượng qua Châu Đốc và lưu lượng qua Tân Châu giảm như đã phân tích ở (3). Còn lý giải nào khác không?

Vào mùa mưa, nhất là những năm lũ lớn, nước lũ tràn biên giới chảy về Tứ Giác Long Xuyên, bị đường N1 với cao trình vượt lũ chặn lại. Cho đến khi các cống Tha La và Trà Sư được mở, có một thời đoạn mực nước tại hai cống này cao hơn mực nước tại Châu Đốc trên sông Hậu. Mặt khác, hệ thống đê bao vượt lũ tháng 8vượt lũ triệt để ở huyện An Phú (Hình 7) cũng đóng góp vào việc tăng lưu lượng tại Châu Đốc, lượng nước từ Phnom Penh đổ về không thay đổi. Cách lý giải này cần được đối chiếu với thực tế, định lương và kiểm nghiệm tại hiện trường.

Nguon nuoc ve DBSCL, nhung dien bien gan day
Hình 7.Hệ thống đê bao Huyện An Phú. Nguồn:Sở NNvPTNT tỉnh An Giang

(5) Trong mùa khô các chỉ số R1(mùa khô) và R2(mùa khô) giảm khá sâu từ năm 2014. Đặc biệt mùa khô hai năm 2017 và 2018, chúng còn thấp hơn cả năm “hạn hán lịch sử” 2015 (Hình 4, 6). Lý do là vì tổng lưu lượng qua Tân Châu gần bằng năm lũ lớn 2011 (Hình 5) trong khi tổng lưu lượng qua Châu Đốc lại còn giảm. Nhưng vì sao?

(6) Sông Bassac có bị suy giảm trong chức năng tãi nước về ĐBSCL?

Trong một bài báo năm 2014 [10] tác giả đã nêu lên nhận xét trong phần kết luận:

Cửa vào của sông Bassac ở giao điểm với sông Mekong và sông Tonle Sap tại Phnom Penh đang dần bị thu hẹp và ngoặc về hướng Đông Nam.

Án ngữ tại đây là đảo Koh Pich được tôn tạo và mở rộng gần đây. Hình 8.

và câu hỏi: Có hay không, và đến mức độ nào, sự thu hẹp và lệch ngoặc về phía Đông Nam của cửa sông Bassac đang làm suy giảm chức năng cung cấp nguồn nước và trầm tích cho vùng hạ của châu thổ theo nhánh Bassac – sông Hậu?

Nguon nuoc ve DBSCL, nhung dien bien gan day

Hình 8. Biến động của Cửa sông Bassac: bị thu hẹp và lệch về phía Đông Nam.

Bản đồ hành chính năm 1934 (trái); từ 1973 đường màu đen đến 2009 đường màu đỏ (giữa); từ 2003 đường màu xanh - 2013 đường màu đỏ (phải).

Bài viết hôm nay, qua phân tích trên đây với số liệu 23 năm (1996-2018) phải chăng đã bước đầu giải đáp câu hỏi đã nêu?

CHÚ THÍCH:

[1] Giáo sư Tiến sĩ khoa học, Chủ nhiệm Chương trình khoa học nhà nước Điều tra cơ bản tổng hợp đồng bằng sông Cửu Long (1983-1990), Đại biểu Quốc hội các khóa IX, X, XI (1992-2007).

[2] SOGREAH/UNESCO, 1963-1966, Mathematical Model of the Mekong River Delta, UNESCO, Paris, 1972.

[3] The Netherlands Delta Development Team, Recommendations concerning Agricultural Development with improved water control in the Mekong Delta, Working Paper IV, Hydrology, April 1974.

[4] Nguyễn Như Khuê. Modelling of tidal propagation and salility intrusion in the Mekong main estuarine system. - Technical paper, Mekong Secretariat, 12/1986.

[5] Nguyễn Tất Đắc. Mô hình MEKSALM 1 tính toán thủy văn và xâm nhập mặn cho đồng bằng sông Cửu Long, Chương trình 60B, Ủy Ban Khoa học Kỹ thuật nhà nước, Hà Nội, 1990.

[6] Phien Huynh Ngoc, ISSF, An Integrated System for Salinity Forecasting. Technical Report prepared for the Mekong Secretariat, Bangkok 8-1991.

[7] Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam, “Quy hoạch tổng thể thủy lợi đồng bằng sông cửu long trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng”, sl.95, 96” 17.02.2011, Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam (SWIRP).

[8] Eslami Sepehr et al, Flow Division Dynamics in the Mekong Delta: Application of a 1D‐2D Coupled Model, Water 2019, 11, 837; doi:10.3390/w11040837.

[9] Trần Như Hối, Một số trận lũ điển hình và phân vùng ngập lụt ở đồng bằng sông Cửu Long, trong Tuyển Tập Khoa học Công nghệ 50 năm xây dựng và phát triển 1959-2009, tập II, trang 89 – 100.

[10] Nguyễn Ngọc Trân (2014), Biến động ở giao điểm ba sông Mekong, Tonle Sap và Bassac, https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/bien-dong-o-giao-diem-cua-ba-song-mekong-tonle-sap-va-bassac-7209

Thứ Ba, 28/04/2020 07:24

Đọc nhiều nhất
Sự Kiện