Phát triển đội ngũ trí thức cần giải pháp đột phá

(Diễn đàn trí thức) - Tìm giải pháp đột phá để thúc đẩy vai trò trí thức khoa học công nghệ, đóng góp vào chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Chiều 16/10, Liên hiệp các Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam (LHH Việt Nam) đã tổ chức Diễn đàn khoa học "Đánh giá, đề xuất cơ chế, chính sách đột phá để phát huy vai trò của trí thức Khoa học và Công nghệ trong giai đoạn 2021-2030" với sự tham dự đông đảo của giới chuyên gia tại các Hội, các Viện thuộc LHH Việt Nam, các đại biểu tại LHH địa phương.

Phat trien doi ngu tri thuc can giai phap dot pha
TS. Phạm Văn Tân - Phó Chủ tịch LHH Việt Nam phát biểu mở đầu diễn đàn.

Phát biểu đề xuất tại Diễn đàn, ông Phạm Văn Tân - Phó Chủ tịch LHH Việt Nam cho biết, đến nay, đã có nhiều hoạt động tổng kết, đánh giá về công tác trí thức và việc phát huy vị trí, vai trò, tiềm năng sáng tạo của đội ngũ trí thức phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển bền vững đất nước. Việc hoàn thiện các chủ trương, cơ chế, chính sách đối với các công tác trí thức vẫn đang được tiếp tục thực hiện.

Trong 5 năm qua, LHH Việt Nam đã lựa chọn những vấn đề liên quan tới chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác trí thức trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều nội dung cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện để tổ chức Diễn đàn nhằm huy động đội ngũ trí thức KH&CN tham gia nghiên cứu, đóng góp ý kiến tư vấn, phản biện.

Năm 2020, LHH Việt Nam tiếp tục tổ chức diễn đàn khoa học mang chủ đề: "Đánh giá, đề xuất các cơ chế, chính sách đột phá để phát huy vai trò của trí thức KH&CN trong giai đoạn 2021-2030".

Đây sẽ là nơi tiếp nhận các ý kiến của nhà khoa học, nhà quản lý, của các độc giả để làm cơ sở chuyển đến các cơ quan chức năng nhằm xử lý tốt vấn đề liên quan đến việc ban hành và thực hiện các cơ chế, chính sách đối với hoạt động của đội ngũ trí thức KH&CN.

Phát biểu tại Hội thảo, TS. Tạ Ngọc Hải - Viện Khoa học tổ chức (Bộ Nội vụ) cho biết, những năm qua, một số cơ quan trung ương và các địa phương đã thực hiện thu hút nhân lực chất lượng cao, nhân tài với các chính sách như: tiếp nhận không qua thi tuyển theo yêu cầu vị trí việc làm, hỗ trợ ban đầu, ưu đãi hệ số lương và các ưu đãi khác đạt kết quả. Những người được thu hút vào làm việc có thái độ có tinh thần trách nhiệm cao, ý thức kỷ luật tốt; khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Tuy nhiên, nhìn rộng ra, về vấn đề chính sách, chủ trương, cho đến sau 30 năm Đổi mới, hơn 20 năm thực hiện Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vẫn chưa có chính sách ở tầm chiến lược quốc tế đối với nhân tài. Việt Nam chưa có sự gắn kết giữa chính sách nhân tài với chiến lược phát triển đội ngũ trí thức; chiến lược phát triển giáo dục; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; chính sách áp dụng đối với chuyên gia cao cấp, chuyên gia, trợ lý, thư ký.

Ông Hải đánh giá, phát hiện thu hút, trọng dụng nhân tài là khâu đột phá trong quản trị nhân lực công mới, trong chính sách phát triển đội ngũ trí thức, nhân lực chất lượng cao trong các cơ quan nhà nước và hệ thống chính trị. Do vậy, chính sách nhân tài cần gắn với vị trí việc làm có trọng tâm là nhóm lãnh đạo, quản lý và nhóm làm nghiệp vụ; tập trung vào đối tượng cán bộ nguồn cấp chiến lược; chuyên gia, quản lý giỏi; nhà khoa học đầu ngành, ưu tú, tiêu biểu; nhà khoa học trẻ tài năng, tài năng trẻ từ học sinh, sinh viên, thanh niên và một số cá nhân kiệt xuất.

Phat trien doi ngu tri thuc can giai phap dot pha
TS. Tạ Ngọc Hải - Viện Khoa học tổ chức (Bộ Nội vụ) nêu tính cần thiết của việc thực hiện chiến lược trí thức khoa học&công nghệ

Có cùng quan điểm này, GS.TSKH Nguyễn Hữu Tăng - nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cho rằng, đã đến lúc Việt Nam chuyển sang giai đoạn trí thức thực sự là động lực phát triển đất nước.

Việt Nam dù tăng trưởng nhanh nhưng vẫn là nước có thu nhập trung bình thấp; không trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, tụt hậu so với Trung Quốc 20 năm, Hàn Quốc và Malaysia 30-35 năm. Muốn trở thành nước có thu nhập cao vào giữa thế kỷ 21, chúng ta chỉ có thể đẩy mạnh ứng dụng KH&CN vào sản xuất, đặc biệt ứng dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; nâng cao trình độ của người lao động sáng tạo của người Việt. Đã đến lúc người trí thức cần nhận rõ trách nhiệm cao cả của mình đối với đất nước và Nhà nước cần tạo điều kiện cho giới trí thức phát huy năng lực sáng tạo. Đặc biệt, lao động trí óc không bị giới hạn bởi độ tuổi mà chỉ bị giới hạn bởi sức khỏe. Nguồn lao động đó tính đến năm 2018 đã chiếm gần 7 triệu người. Ở nước ta đã bắt đầu chuyển sang giai đoạn mà trí thức thực sự là động lực phát triển đất nước.

Từ khi có Nghị quyết Trung ương số 27-NQ/TW về trí thức tới nay, cơ chế, chính sách của Nhà nước đối với trí thức còn thiếu và chưa đồng bộ; một số địa phương đưa ra các biện pháp thu hút trí thức về địa phương mình công tác nhưng hiệu quả thấp; lãnh đạo ở một nơi vẫn còn không quan tâm, tạo điều kiện cho Liên hiệp các Hội KH&KT hoạt động... Sự phối hợp giữa các cơ quan với tổ chức hội KH&KT còn lỏng lẻo, chưa phát huy được sức mạnh của đội ngũ trí thức.

Theo GS.TSKH. Nguyễn Hữu Tăng, trí thức cần được bảo đảm tự do, dân chủ trong hoạt động nghề nghiệp; được tạo điều kiện tham gia vào các đề tài nghiên cứu phù hợp với chuyên môn của bản thân; được tham gia tranh luận, thảo luận tại các diễn đàn, hội nghị trong nước và quốc tế, công bố kết quả nghiên cứu về những vấn đề bản thân quan tâm; được đãi ngộ xứng đáng với kết quả nghiên cứu.
 
Thời điểm này, đất nước cần phải tạo điều kiện cho khoa học phát triển và để sự sáng tạo trở thành tiềm thức hàng ngày trong đời sống nước ta.

Phát biểu tại Hội thảo, TS. Hoàng Ngọc Đường - Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học & kỹ thuật tỉnh Bắc Kạn đánh giá rằng, môi trường và điều kiện làm việc cho hoạt động của trí thức chưa được cải thiện đáng kể, trong khi đó, chính sách trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức các địa phương chưa có gì thay đổi lớn và không thống nhất trong toàn quốc.

Ông Đường chỉ ra thực tế tại địa phương rằng, các Chỉ thị, Nghị quyết đưa ra các chủ trương rất đúng đắn, địa phương triển khai kịp thời, xây dựng chương trình hành động cụ thể, nhưng sau đó không thực hiện được bởi không được thể chế hóa, không có nguồn lực đảm bảo đi kèm từ Trung ương đến địa phương.

Cùng với đó, các cấp đều xây dựng chương trình hành động hoặc kế hoạch thực hiện Chỉ thị, Nghị quyết, phân công cho cơ quan chủ trì, phối hợp, tuy nhiên sau đó kết quả thực hiện thế nào không có cơ chế kiểm tra, không có chế tài xử lý, thống nhất trong toàn quốc.

"Các chỉ thị Nghị quyết thường sau 5 năm, 10 năm mới tiến hành sơ, tổng kết như vậy các Nghị quyết được triển khai thực hiện qua nhiều khóa nhưng không có sự theo dõi, đôn đốc liên tục, nên xảy ra hiện tượng khóa sau không nắm được những Nghị quyết khóa trước, đến khi sơ, tổng kết mới tìm hiểu và đánh giá" - ông Đường nêu.

Giải pháp nào cho thu hút trí thức?

Theo ý kiến của TS. Tạ Ngọc Hải, để thực hiện tốt chính sách với trí thức, cần thực hiện phương châm "Kết nói với nhân tài của ngàu mai từ những người có triển vọng tài năng của ngày hôm nay" và phương châm "Bốn tốt: Đãi ngộ tốt - Cơ hội thăng tiến tốt- Môi trường làm việc tốt - Để sáng tạo tốt trong chính sách nhân tài".

Ông Hải cho rằng, về giải pháp phát hiện nhân tài, cần tổ chức thi tìm kiếm tài năng; sử dụng trắc nghiệm để đo chỉ số phát triển trí tuệ (IQ) và các chỉ số khác, hoặc sử dụng các tổ chức chuyên biệt hay các biện pháp khác phù hợp với quy định pháp luật để tìm người có tài năng, người có triển vọng tài năng.

Vị chuyên gia đề xuất cần nghiên cứu áp dụng hợp lý quy định chế độ lương và các điều kiện làm việc của chuyên gia cao cấp, chuyên gia, trợ lý, thư ký theo hướng tiếp tục trọng dụng trí tuệ, kinh nghiệm đối với những trường hợp thôi giữ chức vụ lãnh đạo chủ chốt cấp Bộ, cấp tỉnh; đồng thời thu hút, đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng trong và ngoài cơ quan nhà nước.

Trong khi đó, quan điểm của PGS.TS Đinh Văn Chiến - Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Nghiên cứu biên tập công trình KH&CN Việt Nam lại cho rằng, muốn giải pháp thu hút nhân tài có hiệu quả, cần phải định nghĩa lại từ đầu về nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là nhân lực phải đáp ứng được 2 tiêu chí:  năng lực và phẩm chất.

Năng lực bao gồm các mặt như: trình độ chuyên môn nghiệp vụ, các kỹ năng tiếp thu và truyền đạt, khả năng tự học hỏi và đào tạo…

Phẩm chất bao gồm: đạo đức, tư cách, lòng say mê nghề nghiệp, ý chí vượt khó khăn…Đây chính là những tiêu chuẩn cơ bản trong lựa chọn cũng như đào tạo nhân lực chất lượng cao.

Phat trien doi ngu tri thuc can giai phap dot pha
Sơ đồ chi tiết về sáng kiến đào tạo nguồn nhân lực và đạo tạo tri thức ở Việt Nam.

Sau đó, cần phải đưa tư duy của kinh tế thị trường vào hàng loạt các chính sách về đào tạo, tuyển dụng, bố trí và đãi ngộ với nhân lực chất lượng cao, trong đó đặc biệt chú trọng công tác dự báo các nhu cầu của xã hội để định hướng cho việc đào tạo, cung ứng nhân lực; phải coi “sức lao động là hàng hóa” trong thu hút, đãi ngộ, tuyển dụng và phải luôn quan tâm đến quy luật cạnh tranh trong vấn đề cung ứng nhân lực.

Một trong những giải pháp đáng chú ý được vị chuyên gia đưa ra là tạo lập cơ chế chính sách mới trong đào tạo nguồn nhân lực và đội ngũ trí thức như: giảm thuế nhập khẩu thiết bị công nghệ tiên tiến cho giảng dạy, miễn thuế cho sản phẩm trong thời kỳ sản xuất thử bằng công nghệ mới, chế độ khen thưởng về sáng chế, ứng dụng công nghệ mới…

Cúc Phương

Thứ Bảy, 17/10/2020 07:41

Đọc nhiều nhất
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện