Trao dịch vụ công cho tổ chức xã hội có năng lực

(Diễn đàn trí thức) - Đã có sự thống nhất về quan điểm trao dần dịch vụ công cho các tổ chức- xã hội nhưng thực tế lại chưa được như kỳ vọng.

Sáng 13/11, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên Hiệp Hội Việt Nam) đã tổ chức Diễn đàn Khoa học "Nâng cao năng lực cho các tổ chức xã hội nhằm thực hiện dịch vụ công" với đông đảo sự tham gia của các nhà khoa học. Ban Quản lý Diễn đàn trí thức, Liên Hiệp Hội Việt Nam đã có bài báo cáo đề dẫn. Báo Đất Việt xin đăng tải toàn bộ nội dung bài viết:

Một trong những chức năng quan trọng của Nhà nước đối với xã hội đó là cung cấp các dịch vụ công. Có nhiều yếu tố tác động đến vấn đề cung ứng dịch vụ công cả chủ quan lẫn khách quan ở mỗi quốc gia và thường xảy ra sự bất cập giữa một bên là cung về dịch vụ công mà đại diện là nhà nước, và một bên là cầu về dịch vụ công mà đại diện là đòi hỏi của mọi người dân trong xã hội. Với một xã hội ngày càng phát triển, đòi hỏi của xã hội, người dân đối với chất lượng dịch vụ công mà nhà nước cung cấp ngày càng phải tốt hơn.

Trao dich vu cong cho to chuc xa hoi co nang luc
Diễn đàn khoa học "Nâng cao năng lực cho các tổ chức xã hội nhằm thực hiện dịch vụ công"

Tuy nhiên, với xu thế quản trị hiện đại, bộ máy nhà nước sẽ dần được thu nhỏ, đồng thời sẽ theo hướng gần gũi với người dân hơn nhưng vẫn cần đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của công dân đang diễn ra hiện nay. Điều đó đặt ra một thực tế khách quan là nhà nước sẽ phải giảm dần những dịch vụ công nào mà nhà nước không nhất thiết phải nắm giữ hoàn toàn mà khuyến khích xã hội hóa để giảm tải công việc của nhà nước cũng như có điều kiện huy động sự tham gia có hiệu quả của xã hội trong cung ứng các dịch vụ công, trong đó các tổ chức xã hội-nghề nghiệp, hội nghề nghiệp, các tổ chức xã hội, các tổ chức KH&CN ngoài công lập cũng là những chủ thể có tiềm năng lớn tham gia xã hội hóa các dịch vụ công.

Trong phạm vi báo cáo này, tác giả tập trung phân tích về cơ chế, chính sách chuyển giao DVC cho các tổ chức hội hiện nay, nêu ra các thuận lợi, khó khăn của các cơ chế đó đồng thời đưa ra những khuyến nghị để phát huy tốt hơn vài trò của các hội trong việc tham gia cung ứng dịch vụ công.

Trong những năm qua, Chính phủ ban hành nhiều văn bản thực hiện chính sách cung ứng dịch vụ công, như Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, ngày 25-4-2006, “Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập”; Nghị định số 85/2012/NĐ-CP, ngày 15-10-2012, “Về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập”; Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, ngày 14-2-2015, “Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập”; Nghị định số 54/2016/NĐ-CP, ngày 14-6-2016, “Quy định cơ chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập”; Nghị định số 141/2016/NĐ-CP, ngày 10-10-2016, “Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác”; Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, “Về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập”.

Gần đây, Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nghị quyết đề ra bốn nhóm mục tiêu cụ thể đến năm 2021, bao gồm việc giảm tối thiểu 10% biên chế so với năm 2015 và xã hội hóa dịch vụ công một lần nữa lại được nhắc đến trong nhóm giải pháp thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW. Đây không phải lần đầu tiên lĩnh vực này được xác định là mở ra cho các tổ chức xã hội, hiệp hội và doanh nghiệp tham gia, tuy nhiên, độ mở đến đâu vẫn đang là vấn đề mấu chốt, điều quyết định mức hấp dẫn và tiến độ thực thi xã hội hóa.

Cho đến nay chưa có một định nghĩa nào về dịch vụ được chấp nhận trên phạm vi toàn cầu. Tính vô hình và khó nắm bắt của dịch vụ, sự đa dạng, phức tạp của các loại hình dịch vụ làm cho việc định nghĩa dịch vụ trở nên khó khăn. Hơn nữa, các quốc gia khác nhau có cách hiểu không giống nhauvề dịch vụ, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.

Về cơ bản, Dịch vụ công được hiểu là những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cơ bản, thiết yếu của người dân và cộng đồng, đảm bảo ổn định và công bằng xã hội do nhà nước chịu trách nhiệm, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.

Dịch vụ công có một số đặc điểm như sau:

a. Là những hoạt động có tính chất xă hội, phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng. Đây là những dịch vụ phục vụ các lợi ích tối cần thiết của xă hội để bảo đảm cuộc sống được b́ình thường và an toàn.

b. Là những hoạt động do các cơ quan nhà nước (thường gọi là cơ quan công quyền) hay những chủ thể được cơ quan công quyền ủy nhiệm đứng ra thực hiện.

c. Để cung ứng các dịch vụ công, các cơ quan nhà nước và tổ chức được ủy nhiệm cung ứng có sự giao tiếp với người dân ở những mức độ khác nhau khi thực hiện cung ứng dịch vụ.

d. Việc trao đổi dịch vụ công thông qua quan hệ thị trường đầy đủ. Thông thường, người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền, hay nói đúng hơn là đă trả tiền dưới h́nh thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước để Nhà nước tổ chức việc cung ứng một cách đều đặn như một sự "thỏa thuận trước". Nhưng cũng có những dịch vụ mà người sử dụng vẫn phải trả thêm một phần hoặc toàn bộ chi phí; tuy nhiên, đối với các loại dịch vụ này, Nhà nước vẫn có trách nhiệm bảo đảm việc cung ứng không nhằm vào mục tiêu thu lợi nhuận.

e. Mọi người dân đều có quyền hưởng sự cung ứng dịch vụ công ở một mức độ tối thiểu, với tư cách là đối tượng phục vụ của chính quyền. Lượng dịch vụ công cộng mà mỗi người tiêu dùng không phụ thuộc vào mức thuế mà người đó đóng góp.

f. Khác với những loại dịch vụ thông thường được hiểu là những hoạt động phục vụ không tạo ra sản phẩm mang h́nh thái hiện vật, dịch vụ công là những hoạt động của bộ máy nhà nước phục vụ các nhu cầu thiết yếu của xă hội, bất kể các sản phẩm được tạo ra có hình thái hiện vật hay phi hiện vật.

g. Dịch vụ công là các hoạt động cung ứng cho xă hội những hàng hóa công cộng. Theo nghĩa hẹp, hàng hóa công cộng là loại hàng hóa mà khi nó đă được tạo ra th́ì khó có thể loại trừ ai ra khỏi việc sử dụng nó; và việc tiêu dùng của mỗi người không làm giảm lượng tiêu dùng của người khác. Hàng hóa công cộng mang lại lợi ích không chỉ cho những người mua nó, mà cho cả những người không phải trả tiền cho hàng hóa này. Đó là nguyên nhân dẫn đến chỗ Chính phủ phải đóng vai trò chính trong việc trở thành người sản xuất hoặc bảo đảm cung cấp các loại hàng hóa công cộng. Còn theo nghĩa rộng, hàng hóa công cộng là "những hàng hóa và dịch vụ được Nhà nước cung cấp cho lợi ích của tất cả hay đa số nhân dân".

Có nhiều quan điểm phân chia các loại hình dịch vụ công, ở đây, chúng tôi nêu ra cách phân loại phổ biến nhất, nhìn từ góc độ quản lý nhà nước. Theo đó, dịch vụ công gồm ba bộ phận: dịch vụ hành chính công, dịch vụ sự nghiệp và dịch vụ công ích.

Dịch vụ hành chính công: Là các dịch vụ thuộc trách nhiệm của nhà nước, phục vụ trực tiếp cho các tổ chức và công dân theo luật định nhằm đảm bảo xã hội vận hành theo trật tự và quy tắc quản trị xã hội của cơ quan quyền lực nhà nước mà không thể ủy thác cho bất cứ cá nhân hoặc tổ chức nào ngoài cơ quan hành pháp thực hiện, bao gồm: cấp phép; cấp giấy xác nhận; công chứng giấy tờ; giữ gìn trật tự nơi công cộng, phòng chống thiên tai.

Dịch vụ sự nghiệp công: Chủ yếu cung cấp các hàng hóa công dưới dạng phúc lợi công cộng cho dân cư như: giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học, thể dục, thể thao, nghỉ ngơi, giải trí, bảo hiểm, an sinh xã hội…

Dịch vụ công ích: Là hoạt động cung cấp các hàng hóa dịch vụ có tính chất kinh tế đáp ứng nhu cầu vật chất thiết yếu cho sinh hoạt của người dân, gắn với việc cung ứng các cơ sở hạ tầng kỹ thuật cơ bản như: cung cấp nước sinh hoạt, thoát nước, vệ sinh môi trường, cây xanh, chiếu sáng, giao thông, vận tải công cộng, tài chính, ngân hàng, kho bạc nhà nước, bảo hiểm, nhà ở xã hội…

Một trong những mục tiêu cải cách đã được các nhà nước xác định rõ là chuyển một phần khá lớn chức năng quản lý xã hội của chính phủ sang cho các tác nhân khác và xã hội hóa dịch vụ công là một xu thế lớn trong trào lưu cải cách nhà nước hiện nay ở phần lớn các nước trên thế giới.

Nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng nhất trong đảm bảo cung cấp dịch vụ công, nhưng không nhất thiết phải là người trực tiếp cung cấp tất cả các dịch vụ đó. Vai trò của nhà nước cần thể hiện rõ hơn trong đẩy mạnh quản lý cung ứng dịch vụ công bằng luật pháp, chính sách và các biện pháp mang tính hỗ trợ, kích thích.

Tùy từng loại dịch vụ công mà nhà nước cho xã hội hóa ở các mức độ khác nhau, đồng thời cũng phụ thuộc lớn vào nhu cầu hay “áp lực” của xã hội đối với các loại DVC khác nhau để nhà nước có chính sách xã hội hóa phù hợp. Nếu như khối các doanh nghiệp tư nhân có xu hướng đòi hỏi nhà nước xã hội hóa các dịch vụ công ích nhiều hơn thì khối các tổ chức xã hội, các tổ chức KH&CN ngoài công lập, các tổ chức hội, hiệp hội lại quan tâm đến các dịch vụ hành chính công và dịch vụ sự nghiệp công nhiều hơn.

Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) là tổ chức Chính trị-Xã hội của trí thức Khoa học và Công nghệ người Việt Nam.

Liên hiệp hội Việt Nam được thành lập năm 1983 theo Quyết định số 121/BT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Trải qua 36 năm hình thành và phát triển, từ một tổ chức xã hội - nghề nghiệp với 15 hội thành viên (01 liên hiệp hội địa phương và 14 hội ngành trung ương), đến nay, Liên hiệp Hội Việt Nam đã trở thành tổ chức chính trị - xã hội với hệ thống rộng khắp cả nước gồm 63 Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và 87 hội, tổng hội và hiệp hội hoạt động trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật chuyên ngành trên phạm vi toàn quốc, tập hợp được trên 2,2 triệu trí thức ở nhiều ngành nghề tham gia hoạt động hội trong phạm vi cả nước. Bên cạnh đó còn gần 500 tổ chức KH&CN trực thuộc và các cơ quan báo chí, truyền thông, nhà xuất bản, Quỹ sáng tạo KH&CN.

Liên hiệp Hội Việt Nam hoạt động với mục đích tập hợp, đoàn kết, phát huy sức sáng tạo của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng nền kinh tế tri thức, góp phần bảo vệ Tổ quốc và thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Theo tinh thần các Nghị quyết của Đảng, Nghị định của Chính phủ, thời gian qua, một số hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã được giao thực hiện hoặc tham gia thực hiện một số dịch vụ công. Chẳng hạn như Tổng hội Xây dựng Việt Nam, Hội KHKT Cầu đường Việt Nam được phép cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng hạng II và hạng III (theo Luật Xây dựng 2014). Tổng hội Y học Việt Nam triển khai giám sát hành nghề y tế tư, đào tạo và đào tạo lại cán bộ y tế theo quy định của Luật Khám chữa bệnh, Giám sát việc sử dụng quỹ Bảo hiểm y tế, tham gia hội đồng cấp chứng chỉ hành nghề, tổ chức đánh giá và công bố chất lượng bệnh viện, triển khai các hoạt động tư vấn, phản biện và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực y tế (theo các nghị quyết liên tịch phối hợp giữa Tổng hội và Bộ Y tế). Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam và Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam thực hiện một số nội dung công việc quản lý hành nghề kế toán, kiểm toán (theo Quyết định số 47/2005/QĐ-BTC ngày 14/7/2005 của Bộ Tài chính).

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, chuyển giao dịch vụ công cho các tổ chức xã hội còn nhiều bất cập. Có nhiều nguyên nhân, có thể kể đến:

1) Chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc chuyển gia dịch vụ công cho các tổ chức Hội đã có, nhưng chưa thật sự quyết liệt.

2) Hệ thống văn bản pháp luật chưa hoàn thiện, việc thể chế hóa chính sách chuyển giao dịch vụ công còn chậm gây khó khăn cho quá trình thực hiện chuyển giao dịch vụ công.

3) Nhận thức của các cấp ngành và xã hội về hội còn nhiều bất cập, nhiều cơ quan nhà nước chưa sẵn sang chuyển giao một số công việc của nhà nước sang các tổ chức hội.

4) Năng lực tiếp nhận dịch vụ công của các hội còn chưa tốt. Cơ sở vật chất và nguồn lực của hội bị hạn chế, thiếu thốn chưa đáp ứng được nhu cầu công việc. Nhiều hội còn lúng rung, chưa xác định được các dịch vụ công mà hội cần phải làm, chưa thực sự vận động chính sách để cơ quan QLNN hiểu và chuyển giao DVC cho các tổ chức hội.

Từ những khó khăn nêu trên, để có thể từng bước nâng cao năng lực của các tổ chức xã hội, đặc biệt là các hội thành viên của Liên hiệp Hội Việt Nam trong việc triển khai dịch vụ công, Diễn đàn sẽ tập trung vào thảo luận một số vấn đề sau:

-         Làm rõ hơn về khái niệm dịch vụ công;

-         Tổng quan về việc chuyển giao dịch vụ công cho các tổ chức xã hội;

-         Thực trạng cơ chế, chính sách chuyển giao dịch vụ công cho các tổ chức hội;

-         Thực trạng triển khai dịch vụ công của một số tổ chức thành viên trong hệ thống Liên hiệp Hội Việt Nam. Bài học kinh nghiệm;

-         Những khó khăn, thuận lợi trong quá trình triển khai dịch vụ công

Thảo luận và đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cho các tổ chức xã hội nhằm tiếp nhận và triển khai dịch vụ công một cách hiệu quả.

Ban Quản lý Diễn đàn trí thức, Liên Hiệp Hội Việt Nam

Thứ Sáu, 15/11/2019 10:10

Đọc nhiều nhất
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện