Vấn đề sạt lở ĐBSCL: Giải pháp nào, ở đâu?

(Diễn đàn trí thức) - "Để giải quyết vấn đề sạt lở ở ĐBSCL có ý kiến cho là cần phải nghiêm cấm khai thác cát sông" - GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân.

(2) Hiểu rõ quy luật dòng chảy của một con sông, với quan điểm hệ thống và động, trong một châu thổ tương đối phẳng, cao trình mặt đất thấp, chịu ảnh hưởng mạnh của hai chế độ triều, trong bối cảnh các thách thức. Hiểu rõ về vùng cận duyên của đồng bằng dưới tác động của triều cường và gió chướng.

Tuân thủ các quy luật trong các quy hoạch, đặc biệt quy hoạch thủy lợi và đô thị; dành không gian trong giao diện giữa con người với sông, với biển; có chính sách để giữ rừng ngập mặn, nghiêm ngặt giữ rừng phòng hộ, hạn chế tối đa tác động đến đường bờ biển. Ví dụ như xây dựng cảng than cho Trung tâm nhiệt điện than ở Duyên Hải, đào kênh Tắt trổ ra biển ở Duyên Hải Trà Vinh.

(3) Làm tốt công tác quản lý nhà nước: (a) trong quan trắc, theo dõi các yếu tố thủy văn, hải văn, trầm tích, nước biển dâng; (b) trong quản lý khai thác tài nguyên (đất, nước, cát sông và nước ngầm, rừng ngập mặn); (c) trong dự báo các khu vực, các điểm có khả năng xảy ra sạt lở; (d) xây dựng tiêu chí thành phố các loại có phân biệt theo điều kiện địa chất, thủy văn; (đ) luật hóa việc dành không gian cho giao diện giữa con người với sông, biển; (e) kịp thời giải quyết hậu quả của sạt lở đã được giảm thiểu.

(4) Dòng chảy sông và dòng chảy ven biển tuân thủ quy luật tự nhiên, không theo ranh giới hành chính. Do vậy, cần sớm thể chế hóa việc liên kết vùng để tối ưu hóa việc phòng và ứng phó với sạt lở.

(5) Xây dựng các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, chuyên đề, và của các địa phương, được kết nối với nhau bằng công nghệ thông tin và internet đám mây. Xây dựng quy chế sử dụng mở cho các viện, trường, các nhà khoa học khai thác các cơ sở dữ liệu này.

(6) Nâng cao kỹ năng mô phỏng. Tập hợp các chuyên gia, đầu tư để sớm làm chủ một số mô hình với số liệu địa hình luôn được cập nhật nhằm chủ động trong công tác mô phỏng, áp dụng cho những vùng cần theo dõi sạt lở. Chuyển giao mô hình và đào tạo kỹ năng mô phỏng cho các địa phương.

Theo dõi những gì xảy ra trong lưu vực có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đồng bằng, mô phỏng các tác hại sẽ gây ra cho đồng bằng sẽ giúp Nhà nước trong đàm phán về an ninh nguồn nước với các nước trong lưu vực.

(7) Khai thác ảnh vệ tinh, đặc biệt ảnh vệ tinh VNREDSAT 1 của Việt Nam để theo dõi sạt lở và các vấn đề có liên quan.

(8) Tăng cường công tác khoa học công nghệ. Cập nhật và hệ thống hóa các hiểu biết về đồng bằng, đặc biệt về thủy văn từ sau CT 60-B. Ứng dụng kết quả của các đề tài nghiên cứu trong giai đoạn (2011 - 2015) và các vấn đề mới phát sinh.

Các viện chuyên ngành thủy lợi cần tăng cường thêm cơ sở khoa học, dự báo các tác động của các dự án mà các viện tư vấn cho các tỉnh ĐBSCL.

Trong tình hình cát tự nhiên ngày càng khan hiếm, sớm hình thành Chương trình vật liệu xây dựng cho ĐBSCL trong đó có nội dungtối ưu hóa việc sử dụng cát tự nhiên, tìm các loại cát nhân tạo thay thế cát tự nhiên, bê-tông nhẹ phù hợp với nền đất yếu, bền trong môi trường ngập, mặn phục vụ các công trình thủy lợi, giao thông và dân dụng, …

(9) Kiên trì xây dựng một cơ chế sử dụng bền vững nguồn nước sông Mekong, trong đó quyền và lợi ích của mỗi quốc gia phải đi đôi với trách nhiệm và nghĩa vụ đối với cả lưu vực. Cơ chế này cần được quy định bằng một điều ước quốc tế (tham khảo Công ước Liên hiệp quốc Vienne 1997 về dòng chảy các sông, Công ước về sông Rhin của Cộng đồng châu Âu, cải tiến Hiệp định MRC 1995).

Trước mắt, có quy định về việc chia sẻ các số liệu thủy văn, cơ chế vận hành của đập thủy điện giữa các nước trong lưu vực mang tính bắt buộc để quản lý tốt nguồn nước sông Mekong và các rủi ro từ biến đổi khí hậu trong lưu vực.

Chú thích:

(1) Tham luận tại Hội nghị khoa học Cơ học Thủy khí toàn quốc lần thứ 20, Cần Thơ, 27.07.2017

(2)  Thật ra hai vụ sạt lở gần đây tại ấp Mỹ Hội, xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới (An Giang) và tại ấp Bình Hòa, xã Bình Thạnh, huyện Thanh Bình (Đồng Tháp) đã được báo trước ít nhất là từ 10 năm nay nếu theo dõi ảnh vệ tinh và quan sát dòng chảy ở hai nơi này. 

(3) Lương Phương Hậu, Xu thế chỉnh trị sông, Tạp chí KH&CN Thủy lợi, 2012, Viện Khoa học Thủy Lợi Việt Nam, Hà Nội.
 
(4) Nguyễn Ngọc Trân, Ghi nhận về Hà Lan đối mặt với biến đổi khí hậu nước biển dâng, trong sách Những hòn đá nhỏ vì sự phát triển bền vững, Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2011, trang 171-191.

  • GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân

Thứ Năm, 24/05/2018 13:39

Đọc nhiều nhất
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện