Vi phạm pháp luật đất đai: Khi cơ quan thẩm quyền sai...

(Diễn đàn trí thức) - Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội đề nghị nghiên cứu giao cho TAND có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đất đai.

Góp ý cho dự án luật bổ sung, sửa đổi Luật Đất đai 2013 tại diễn đàn khoa học do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức mới đây, ông Đặng Đình Luyến, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội tập trung vào nội dung hoàn thiện các quy định về giải quyết tranh chấp đất đai, xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.

Báo Đất Việt xin giới thiệu nội dung tham luận của ông Đặng Đình Luyến:

1. Sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2013

Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước. Luật Đất đai đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, nhưng quá trình thực hiện đã nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, tình trạng đất đai bị thất thoát, lãng phí lớn, tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm diễn ra nghiêm trọng và là nơi phát sinh nhiều khiếu nại, tố cáo, khởi kiện nhất (chiếm khoảng 70% các loại khiếu nại, tố cáo), gây bức xúc trong dư luận xã hội, trong Nhân dân.

Mặt khác, qua thực tiễn thi hành cũng cho thấy đã có nhiều bất cập, hạn chế trong việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai; trong việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, hạn điền sử dụng đất; miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền quản lý nhà nước về đất đai; trong việc giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm pháp luật về đất đai, v.v …

Vì vậy, cần sớm tổng kết, đánh giá việc thi hành Luật Đất đai năm 2013 để có những sửa đổi, bổ sung cần thiết; sớm khắc phục những hạn chế, bất cập nêu trên, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội.

2. Về giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm pháp luật về đất đai

Luật Đất đai năm 2013 đã dành một số điều quy định về giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm pháp luật về đất đai, cụ thể là:

Về giải quyết tranh chấp đất đai

Điều 202 quy định về hòa giải tranh chấp đất đai: theo đó trước hết các bên tự hòa giải, nếu không tự hòa giải được thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức hòa giải.

Điều 203 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai đối với tranh chấp đất đai mà không hòa giải thành tại Ủy ban nhân dân cấp xã, thì được giải quyết tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền nếu có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất. Các tranh chấp khác thì khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh để giải quyết, nếu các bên không đồng ý với quyết định giải quyết ở cấp dưới thì khiếu nại lên cấp trên trực tiếp hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự để giải quyết.

Điều 204 và Điều 205 quy định việc khiếu nại, khởi kiện và tố cáo về đất đai được giải quyết theo pháp luật về khiếu nại, tố tụng hành chính và tố cáo. 

Vi pham phap luat dat dai: Khi co quan tham quyen sai...
Khiếu nại, tố cáo đất đai chiếm khoảng 70% các loại khiếu nại, tố cáo. Ảnh minh họa: Tuổi trẻ

Về xử lý vi phạm pháp luật về đất đai 

Điều 206 quy định người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Điều 207 quy định xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai khi thi hành công vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật 

Điều 208 quy định trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai ở địa phương.

Điều 209 quy định việc tiếp nhận và xử lý trách nhiệm của thủ trưởng, công chức, viên chức thuộc cơ quan quản lý đất đai các cấp và công chức địa chính cấp xã trong việc vi phạm trình tự thực hiện các thủ tục hành chính.

Có thể nói rằng Luật Đất đai 2013 đã quy định các nội dung cơ bản về giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. Tuy nhiên, đề nghị cần nghiên cứu, xem xét một số vấn đề sau đây:

Có thể nhận thấy pháp luật hiện hành quy định khá đầy đủ về giải quyết tranh chấp đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai, nhưng qua thực tiễn thi hành cho thấy hiệu lực, hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai không cao, còn nhiều hạn chế. Vì vậy, cần nghiên cứu để đưa ra một cơ chế mới giải quyết tranh chấp đất đai, xử lý vi phạm pháp luật về đất đai có hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra.

Cụ thể, Điều 203 của Luật Đất đai 2013 vừa giao cho Tòa án nhân dân vừa giao cho người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai. Đây là cơ chế tạo thuận lợi cho các bên tranh chấp lựa chọn nơi giải quyết, nhưng pháp luật giao cho người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước (Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh) giải quyết là vấn đề cần phải cân nhắc lại, vì Chủ tịch 2 cấp này rất bận nhiều công việc quản lý nhà nước, hơn nữa pháp luật cũng không quy định rõ trình tự, thủ tục giải quyết như thế nào và thực tiễn việc giải quyết tại cơ quan quản lý nhà nước cũng còn nhiều hạn chế. Vì vậy, đề nghị nghiên cứu quy định giao cho Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đất đai, mà không giao cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh nữa.

Luật Đất đai đã quy định các nội dung cơ bản về xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. Nhưng để thực hiện các quy định của Luật có hiệu quả thì cần phải tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật (có thể sửa đổi, bổ sung vào Luật đất đai hoặc quy định cụ thể trong văn bản dưới luật), như nghiên cứu quy định cụ thể về quy trình, thủ tục Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai; quy định cụ thể các hình thức, trình tự, thủ tục, các biện pháp xử lý các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền khi có vi phạm pháp luật về đất đai. Chẳng hạn quy định rõ các hình thức, biện pháp xử lý đối với các cơ quan có thẩm quyền khi có vi phạm pháp luật, quyết định sai trong việc quy hoạch, kế hoạch, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, v v...

3. Một số kiến nghị khác về sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai 2013

3.1. Về vấn đề sở hữu đất đai

Hiến pháp năm 2013 tiếp tục quy định “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, ……là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” (Điều 53).

Tuy nhiên, Luật Đất đai năm 2013 chưa quy định cụ thể về mối quan hệ của người dân với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Việc thực hiện quyền sở hữu toàn dân về đất đai cũng còn có những bất cập, thể hiện sự không công bằng, thiếu khách quan, do đó đã có một bộ phận không nhỏ người dân luôn thiệt thòi, hạn chế quyền lợi trong việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất..., trong khi đó có một số người được hưởng lợi, giàu có từ thực hiện sở hữu toàn dân về đất đai; đã gây nên bức xúc trong nhân dân, tăng thêm khiếu nại, tố cáo, bất ổn xã hội , v v…

Mặt khác, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai không còn nguyên vẹn bản chất của chế độ công hữu về đất đai, bởi vì Nhà nước đã trao cho người sử dụng đất (hộ gia đình, cá nhân) nhiều quyền gần như các quyền thuộc sở hữu về đất đai, như quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất…

Vì vậy, đề nghị nghiên cứu sửa đổi quy định của Luật đất đai để bảo đảm đúng bản chất về quyền sở hữu toàn dân về đất đai và quy định rõ mối quan hệ của người dân với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

3.2. Về thu hồi đất

Thu hồi đất là vấn đề rất quan trọng, liên quan tới quyền công dân, quyền con người mà đã được Hiến pháp 2013 quy định. Theo đó, tại khoản 3 Điều 54 của Hiến pháp quy định: “Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng. Việc thu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật”.

Như vậy, Hiến pháp đã quy định rõ các trường hợp bị thu hồi đất. Tuy nhiên, Luật Đất đai 2013 đã quy định quá rộng các trường hợp bị thu hồi đất so với quy định của Hiến pháp, làm hạn chế quyền của người sử dụng đất; cụ thể là ngoài quy định các trường hợp thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh (Điều 61) và thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (Điều 62), thì Luật Đất đai 2013 còn có Điều 64 quy định thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai và Điều 65 quy định thu hồi đất do có nguy cơ đe dọa tính mạng con người, như đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường hoặc đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác.

Vì vậy, đề nghị nghiên cứu sửa Luật Đất đai để thu hẹp các trường hợp đất bị thu hồi, theo đó bỏ Điều 64 và Điều 65 của Luật đất đai nhằm bảo đảm phù hợp với quy định của Hiến pháp 2013 và bảo đảm quyền công dân, quyền con người trong việc sử dụng đất đai. Đồng thời, cần quy định rõ các chính sách của Nhà nước đối với người có đất bị thu hồi, như đền bù thỏa đáng, công khai, minh bạch, hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm, hỗ trợ vay vốn …nhằm tạo thuận lợi cho họ sớm ổn định cuộc sống.

3.3. Về giá đất

Pháp luật quy định giá đất hiện nay rất bất hợp lý (giá thu hồi, đền bù cho người dân thì rất thấp, nhưng giá bán đất từ các dự án thì rất cao) nên người có đất bị thu hồi rất thiệt thòi, Nhà nước cũng không được lợi mà chỉ có khâu trung gian là thu lợi lớn, từ đây cũng đã phát sinh tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm; đồng thời phát sinh nhiều khiếu nại, khiếu kiện, tranh chấp đất đai. Vì vậy, đề nghị nghiên cứu quy định giá đền bù đất cho người dân sát với giá thị trường và khắc phục những bất cập nêu trên.

3.4. Về  Miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất

Điều 110 của Luật Đất đai 2013 quy định việc miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất. Nhưng mới chỉ quy định một số trường hợp được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, sau đó giao cho Chính phủ quy định thêm các trường hợp khác được miễn, giảm.

Mặt khác, Luật Đất đai quy định rất chung chung các trường hợp được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, không cụ thể, không rõ ràng và giao Chính phủ, bộ ngành quyết định vấn đề này. Vì vậy, đề nghị cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều 110 này để quy định cụ thể những trường hợp được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và những trường hợp được giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, mà không nên giao cho Chính phủ quy định, để bảo đảm tính công khai, minh bạch và phù hợp với Hiến pháp 2013.

  • Đặng Đình Luyến

Thứ Bảy, 18/07/2020 07:50

Đọc nhiều nhất
Báo Đất Việt trên Facebook
.
Sự Kiện